Yet another one, at 15:00 PM
- 04/06/2025 22:00:00- 658 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 628 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 433 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 377 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 357 Lượt xem
ID:3486
Danh sách | : | Liên quan |
---|---|---|
: |
Khi kể lại “cuộc tầm cầu cao quý” của Ngài, Đức Phật nói rằng khi Ngài quán sát thế gian ngay sau khi thành đạo, Ngài thấy chúng sinh như hoa sen qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau trong hồ nước. Có những hoa sen đã ở mặt nước hoặc gần mặt nước, có khả năng giác ngộ chỉ qua tiếp xúc với giáo pháp xuất thế của Ngài. Nhưng đa số chúng sinh khi tiếp cận với giáo pháp như thể những búp sen còn chìm sâu dưới mặt nước. Các đóa sen này được hưởng lợi qua ánh sáng mặt trời và dùng năng lượng đó để duy trì sự sống, nhưng vẫn cần thời gian để có thể vươn lên đến mặt nước. Cũng như thế, đa số phàm nhân khi nghe được Phật pháp và thiết lập niềm tin, vẫn phải nuôi dưỡng các phẩm hạnh tốt với năng lượng của Pháp, cho đến khi tâm thức họ được phát triển đầy đủ để thực chứng giác ngộ. Tiến trình này thường phải qua nhiều kiếp sống. Như thế, những người đó cần phải có phương cách dài hạn để phát triển tâm linh. Khi thực hành con đường giải thoát, họ phải tránh việc tái sinh vào những cảnh khổ, tạo những kiếp sống nối tiếp với bảo đảm vật chất, an vui và có cơ hội cho tiến bộ tâm linh.
Những lợi ích này, các điều kiện tăng cường cho phát triển tâm linh trong Giáo Pháp, có được do sự tích tụ phước báu (puñña). Đây là một từ có nghĩa là khả năng của hành động thiện lành, mang đến các kết quả lợi lạc trong chu kỳ tái sinh. Theo lời dạy của Đức Phật, vũ trụ với nhiều cõi hiện hữu của chúng sinh được vận hành ở tất cả các mức độ, bằng các nguyên tắc không thay đổi về vật lý, sinh học, tâm lý và đạo đức. Tiến trình các chúng sinh đi từ trạng thái hiện hữu này sang hiện hữu khác cũng tuân theo nguyên tắc như thế. Tiến trình đó được quy định bởi một luật dựa theo hai nguyên tắc chính. Thứ nhất, luật đó liên kết các hành động của chúng ta với cõi giới ta sẽ tái sinh, tương ứng với các hành động đó. Thứ hai, luật đó xác định sự liên hệ giữa các hành động của ta với phẩm chất kinh nghiệm của chúng ta trong cõi giới ta sinh ra.
Yếu tố chi phối trong tiến trình này, yếu tố làm cho toàn thể tiến trình theo đúng luật trên, là một lực gọi là “nghiệp” (kam- ma). Chữ “nghiệp” có nghĩa đen là hành động, nhưng về mặt vận hành, nó có nghĩa là hành động cố ý. Như Đức Phật có nói: “Chính tác ý (cetanā) Ta gọi là nghiệp; bởi vì khi có ý chí (cetayitvā), người ta hành động qua thân, khẩu và ý”. Như thế, nghiệp là những hành động do tác ý. Tác ý như thế có thể chỉ ở trong tâm, tạo ra ý nghiệp phát sinh như tư tưởng, hoạch định và mong muốn; hay nó có thể biểu hiện ra ngoài bằng những hành động về thân và lời nói.
Những hành động của chúng ta, sau khi thực hiện, dường như tiêu hủy và biến mất, không còn lưu lại dấu vết nào, ngoài tác động có thể nhìn thấy trên người khác và trên môi trường của chúng ta. Tuy nhiên, theo Đức Phật, tất cả những hành động cố ý về mặt đạo đức sẽ mang đến kết quả (vipāka, phala) tương ứng với phẩm chất đạo đức của các hành động đó. Khả năng của các hành động để tạo ra những kết quả thích hợp về mặt đạo đức là những gì có ý nghĩa là nghiệp. Từ đó, khi có đủ các điều kiện nội tại và ngoại vi thích hợp, nghiệp sẽ chín muồi và tạo ra quả tương xứng. Khi chín muồi, nghiệp sẽ quay trở lại với chúng ta, tốt hay xấu tùy thuộc vào phẩm chất đạo đức của hành động ban đầu. Điều này có thể xảy ra sớm hay muộn, ngay trong kiếp sống này, hay trong kiếp sống kế tiếp, hay những kiếp sống khác trong tương lai xa xôi. Một điều chắc chắn là khi ta vẫn còn ở trong cõi ta-bà, những nghiệp tích tụ của ta có khả năng sẽ chín muồi nếu chúng chưa trổ quả.
Trên cơ sở phẩm chất đạo đức, Đức Phật phân biệt nghiệp thành hai loại chính: Bất thiện (akusala) và thiện (kusala). Nghiệp bất thiện là hành động bất lợi về tinh thần cho người tạo ra, đáng chê trách về mặt đạo đức, có tiềm năng tạo ra sự tái sinh kém may mắn và các kết quả đau khổ. Tiêu chuẩn đánh giá một hành động là bất thiện là các động lực cơ bản, là “gốc rễ”, từ đó phát sinh ra hành động. Có ba gốc rễ bất thiện: Tham, sân và si. Từ đó, nảy sinh nhiều phiền não thứ cấp – các trạng thái giận dữ, thù hận, ganh tị, ích kỷ, ngoan cố, kiêu ngạo, tự phụ và phóng dật. Từ gốc rễ bất thiện và phiền não thứ cấp sẽ phát sinh các hành động uế nhiễm.
Trái lại, nghiệp thiện là hành động có lợi về tinh thần, đáng khen ngợi về mặt đạo đức. Đây là hành động chín muồi trong hạnh phúc và may mắn. Có ba gốc rễ thiện: vô tham, vô sân và vô si, được thể hiện tích cực hơn qua sự rộng lượng, từ tâm và trí tuệ. Trong khi các hành động phát xuất từ gốc rễ bất thiện ràng buộc ta vào vòng sinh tử liên tục, hành động bắt nguồn từ gốc rễ thiện được chia làm hai loại, hiệp thế và siêu thế. Các hành động thiện hiệp thế (lokiya) có tiềm năng đưa đến sự tái sinh may mắn và các kết quả an vui trong vòng tái sinh. Các hành động thiện siêu thế (lokuttara) – là nghiệp tạo ra qua phát triển Bát Chi Thánh Đạo và các yếu tố hỗ trợ giác ngộ – sẽ đưa đến giác ngộ và giải thoát khỏi vòng tái sinh. Đây là nghiệp để gỡ bỏ toàn bộ tiến trình nhân quả nghiệp báo.
Mối tương quan giữa nghiệp và quả được trình bày tổng quát trong Kinh văn V,1(1). Bài kinh gọi hành động bất thiện là “nghiệp đen” và hành động thiện hiệp thế là “nghiệp trắng”. Bài kinh cũng đề cập đến một loại nghiệp là cả trắng lẫn đen. Nói chính xác, đây không phải để chỉ một nghiệp đồng thời có cả tính chất thiện lẫn bất thiện; bởi vì một hành động phải là thuộc loại này hay loại khác. Nghiệp kết hợp này là để chỉ hành vi của một người lúc thiện, lúc ác, thay đổi liên tục. Cuối cùng, bài kinh nói về loại nghiệp không trắng không đen. Đây là nghiệp phát triển Bát Chi Thánh Đạo, loại nghiệp thiện siêu thế.
Cần phải nhấn mạnh rằng trong Phật giáo Sơ kỳ, sự thông hiểu và chấp nhận nguyên tắc nghiệp quả là một nhân tố thiết yếu của Chánh kiến. Chánh kiến có hai phương diện: phương diện hiệp thế, có liên quan đến đời sống thế gian; và phương diện siêu thế, có liên quan đến con đường giải thoát. Chánh kiến siêu thế bao gồm sự thông hiểu Tứ Thánh Đế, lý duyên sinh và ba đặc tướng về vô thường, khổ, vô ngã. Trong Phật giáo Sơ kỳ, chánh kiến siêu thế này không thể có mặt riêng rẽ, cô lập khỏi chánh kiến hiệp thế. Trái lại, chánh kiến siêu thế bao hàm và phụ thuộc vào sự hỗ trợ vững chắc của chánh kiến hiệp thế, nghĩa là một niềm tin vững chắc vào luật nghiệp quả và tác động của luật này qua tiến trình tái sinh.
Chấp nhận luật nghiệp quả đòi hỏi thay đổi cơ bản trong sự hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ của ta với thế giới. Cặp đôi giáo thuyết về nghiệp và tái sinh cho chúng ta thấy thực sự thế giới mà ta đang sống, trong các khía cạnh quan trọng, là sự phản ánh của vũ trụ nội tại trong tâm. Đây không có nghĩa thế giới bên ngoài có thể thu nhỏ thành một suy diễn tâm thức theo cách thức của một số chủ thuyết triết học duy tâm. Tuy nhiên, nếu kết hợp lại, hai giáo thuyết này cho thấy những hoàn cảnh chúng ta sống phù hợp chặt chẽ với các xu hướng nghiệp hành của tâm ta. Lý do chúng sinh nào tái sinh vào một cảnh giới nào là vì trong kiếp trước, chúng sinh đó đã tạo nghiệp, hay những hành động có tác ý, dẫn đến tái sinh vào cảnh giới ấy. Như Đức Phật đã dạy: “Vì chúng sinh bị ngăn che bởi si mê và tham ái, nghiệp là đất trồng, thức là hạt giống và tham ái là hơi ẩm, để thức được thiết lập trong cảnh giới mới của hiện hữu – hoặc là thấp kém, hoặc trung bình, hoặc cao sang” (AN 3:76).
Bài kinh tiếp theo, Kinh văn V,1(2), phân biệt rõ hơn về nghiệp bất thiện và thiện. Bài kinh liệt kê mười điều quan trọng cho mỗi loại. Lần lượt, chúng được gọi là “phi pháp, phi chánh đạo” và “đúng pháp, đúng chánh đạo”, nhưng chúng thường được gọi là thập ác nghiệp và thập thiện nghiệp. Mười điều bất thiện này được phân chia theo ba cửa hành động – thân, khẩu, ý. Có ba hành vi bất thiện về thân: giết người, trộm cắp và tà hạnh; bốn hành vi bất thiện về khẩu: nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời thô lỗ và nói lời vô ích (hay đồn nhảm); và ba bất thiện về ý: Tham lam, sân hận và tà kiến. Mười điều thiện là đối nghịch lại: không làm ba điều ác về thân, không làm bốn điều ác về khẩu, không tham lam, có lòng tử tế và có chánh kiến. Theo bài kinh, mười ác nghiệp là lý do đưa chúng sinh tái sinh vào cảnh giới khổ sau khi chết; mười thiện nghiệp là lý do đưa chúng sinh tái sinh vào cảnh giới tốt lành sau khi chết. Bài kinh cũng cho thấy mười thiện nghiệp không những đưa đến cảnh giới an vui, mà còn đưa đến việc đoạn trừ lậu hoặc, chứng đạt giải thoát.
Các đoạn kết của bài kinh cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về vũ trụ quan Phật giáo. Vũ trụ Phật giáo được chia làm ba giới: dục giới (kāmadhātu), sắc giới (rūpadhātu) và vô sắc giới (arūpadhātu) – mỗi giới có nhiều cõi khác nhau.
Dục giới là thế giới chúng ta đang sống. Có tên gọi như thế vì chúng sinh tái sinh vào đây bị thúc đẩy bởi dục tham. Giới này chia ra làm hai cõi, cõi dữ và cõi lành. Cõi dữ hay các trạng thái đau khổ (apāya) có ba loại: Địa ngục, thú vật và hồn ma hay ngạ quỷ (pettivisaya) – là những chúng sinh đói khát không ngừng và chịu các thứ đau khổ khác. Đây là các cõi tái sinh do kết quả của thập ác nghiệp.
Các cõi lành trong dục giới là cõi người và sáu cõi chư thiên dục giới. Sáu cõi chư thiên là: Chư thiên trong cõi của Tứ đại thiên vương, chư thiên trong cõi trời Ba mươi ba hay Đao-lợi (Tāvaṭimsa), chư thiên trong cõi trời Dạ-ma (Yāma), chư thiên trong cõi trời Ðâu-suất-đà (Tusita), chư thiên trong cõi trời Hóa lạc (Nimmānaratī) và chư thiên trong cõi trời Tha hóa tự tại (Paranimmitavasavattī). Nghiệp nhân để tái sinh vào các cõi lành này là thập thiện nghiệp.
Trong sắc giới, các dạng thức sắc vật chất thô tế không hiện diện. Cư dân ở đó, được gọi là phạm thiên (brahmā), được hưởng hạnh phúc, sức mạnh, độ sáng và sức sống vượt trội so với các chúng sinh dục giới. Sắc giới có mười sáu cõi. Đây là tương quan đến bốn thiền-na. Đắc sơ thiền đưa đến tái sinh vào các cõi Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Đại phạm thiên. Đắc nhị thiền đưa đến tái sinh vào các cõi Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Quang minh thiên. Đắc tam thiền đưa đến tái sinh vào các cõi Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên. Đắc tứ thiền đưa đến tái sinh vào các cõi Quảng quả thiên, Vô tưởng thiên. Sắc giới cũng bao gồm năm cõi hoàn toàn dành cho sự tái sinh của các vị Bất Lai, gọi là cõi Vô đọa thiên, Vô phiền thiên, Thiện hiện thiên, Thiện kiến thiên, Vô song thiên (aviha, atappa, sudassa, sudassı̄, akaniṭṭha). Trong mỗi cõi này, tuổi thọ có thời hạn rất lớn và tuổi thọ gia tăng đáng kể với mỗi cõi cao hơn.
Trong vô sắc giới, hình dạng sắc vật thể không hiện hữu mà chỉ có tiến trình tâm. Gồm có bốn cõi tương ứng với bốn bậc thiền-na vô sắc: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên, Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên. Tuổi thọ của các cõi này lần lượt là: 20.000; 40.000; 60.000; và
Trong vũ trụ quan Phật giáo, sự hiện hữu trong mỗi cõi, là kết quả của nghiệp với hiệu lực hữu hạn, đều là vô thường. Chúng sinh tái sinh vào cõi thích ứng với nghiệp của họ, thọ lãnh quả tốt hay quả xấu. Sau khi sinh nghiệp hết hiệu lực, họ qua đời để tái sinh vào một nơi nào đó, tùy theo các nghiệp khác đến lúc chín muồi. Vì thế, sự hành hạ nơi địa ngục cũng như an lạc ở cõi trời, dù cho kéo dài rất lâu, cũng sẽ chấm dứt. Cho những người vẫn còn khuynh hướng muốn tái sinh làm người hay làm chư thiên, Đức Phật dạy họ những hành vi đạo đức để đạt được sự mong cầu của họ. Nhưng đối với những ai có giác căn trưởng thành, Ngài khích tấn họ phải nỗ lực để chấm dứt luân hồi trong thế giới ta-bà, đạt đến Bất tử, Niết- bàn, vượt ra khỏi các cõi giới hữu vi.
Trong khi hai bài kinh đầu tiên của chương này thiết lập mối tương quan tổng quát giữa nghiệp và các cõi tái sinh, Kinh văn V,1(3) chỉ rõ các nguyên nhân cơ bản về nghiệp, để thấy các khác biệt hiển hiện trong đời sống con người. Bài kinh đề cập đến một lời giảng nổi tiếng của Đức Phật: “Chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp. Nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Nghiệp phân chia chúng sinh, nghĩa là có liệt, có ưu”. Bài kinh giải thích câu nói này qua bảy đôi đối nghịch về phẩm hạnh của con người. Bài kinh cũng đưa ra sự khác biệt giữa hai loại hậu quả của ác nghiệp. Loại ác nghiệp mạnh sẽ đưa đến tái sinh vào các cõi dữ. Loại kia là tạo ra các quả xấu trong kiếp người, thí dụ như có tuổi thọ ngắn cho những người tạo nghiệp sát sinh trong kiếp trước. Tương tự, kết quả của nghiệp thiện cũng có hai loại. Loại thiện nghiệp mạnh sẽ cho tái sinh vào các cõi trời và loại kia đưa đến quả lành trong kiếp người.
Phần tiếp theo trình bày về công đức hay phước báu (puñña). Đây là thiện nghiệp có khả năng sinh ra các kết quả thuận lợi trong chu kỳ tái sinh. Công đức tạo ra các lợi ích hiệp thế, như sinh ra tốt lành, có tài sản, sắc đẹp và thành công. Công đức cũng dùng như một điều kiện tăng cường cho các lợi ích siêu thế, nghĩa là giúp đạt đến các giai đoạn trên con đường giác ngộ. Do đó, như trong Kinh văn V,2(1), Đức Phật kêu gọi các đệ tử vun trồng công đức, đề cập đến việc vun trồng công đức của Ngài trong nhiều kiếp trước, như là một thí dụ.
Các bộ kinh Nikāya đã phân chia rõ ràng ba nền tảng công đức (puññakiriyavatthu, phước nghiệp sự): Bố thí, trì giới và hành thiền. Kinh văn V,2(2) kết nối các các nền tảng công đức với những loại tái sinh tương ứng. Trong bối cảnh tôn giáo Ấn Độ, việc tạo các công đức xoay quanh niềm tin vào những đối tượng được xem là thiêng liêng và có sức mạnh tâm linh, có khả năng dùng để hỗ trợ cho tích tụ công đức. Đối với tín đồ Phật giáo, đó là ba châu báu (Tam Bảo): Phật, Pháp, Tăng. Kinh văn V,2(3) đề cao mỗi loại châu báu này là tối thượng trong một lĩnh vực riêng: Phật bảo là tối thượng trong loài người, Pháp bảo là tối thượng trong các lời dạy và Tăng bảo là tối thượng trong các cộng đồng tôn giáo. Kinh văn đề xuất hai mặt khác biệt thú vị về Pháp bảo: Trong tất cả các pháp hữu vi (dhammā saṅkhatā), Bát Chi Thánh Đạo là tối thượng; trong tất cả các pháp hữu vi và vô vi (dhammā saṅkha-tā vā asaṅkhatā vā), Niết-bàn là tối thượng. Chỉ có niềm tin nơi Tam Bảo, sự tín nhiệm tôn kính và sùng kính, là cơ bản của công đức. Nhưng các câu kệ trong bài kinh cũng vạch ra rõ ràng rằng Đức Phật và Tăng đoàn có thêm chức năng là những vị nhận các món quà tặng. Trong vai trò này, các vị ấy giúp cho thí chủ tạo công đức đưa đến trọn vẹn các mong ước đạo hạnh của họ. Khía cạnh này sẽ được trình bày thêm dưới đây.
Những phần kế tiếp trong chương này trình bày thêm về từng nền tảng của công đức, bắt đầu là bố thí (dāna, rộng lượng, chia sẻ). Đức Phật thường dạy bố thí là giới hạnh sơ khởi nhất của đời sống tâm linh, vì bố thí giúp bẻ gãy khung vị kỷ trong tâm mà dựa vào đó, ta quen tương tác với người khác – Kinh văn V,3(1)-(4). Trái ngược với những gì độc giả phương Tây mong đợi, bố thí trong Phật giáo Sơ kỳ không có nghĩa đơn giản là từ thiện nhân đạo hướng về người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn. Mặc dù bao gồm những điều đó, nhưng sự thực hành hạnh bố thí còn có một ý nghĩa đặc biệt bắt nguồn từ cấu trúc xã hội của tôn giáo Ấn Độ. Tại Ấn Độ trong thời Đức Phật, những người đi tìm những chân lý sâu xa nhất của sự hiện hữu và đạt được giải thoát khỏi vòng sinh tử thường là những người rời bỏ gia đình, từ bỏ vị thế an toàn trong trật tự xã hội Ấn Độ và sống một cuộc đời bấp bênh của kẻ lang thang vô gia cư. Với đầu cạo tóc hoặc tóc quấn bện lại, đắp y vàng hoặc trắng hoặc khỏa thân, họ đi từ nơi này đến nơi khác, không có nơi cư trú cố định, ngoại trừ trong ba tháng mùa mưa, đi lang thang không nhà cửa. Họ được gọi là sa-môn (samaṇas, người tu khổ hạnh) hoặc du sĩ (paribbājakas), không làm các dịch vụ có thu nhập, nhưng sống nhờ vào lòng từ thiện của các gia chủ. Các tín đồ cư sĩ cung cấp phương tiện vật chất – y áo, vật thực, nơi ở và thuốc men – với niềm tin rằng cúng dường như thế là nguồn công đức, để giúp các tín đồ ấy tiến vài bước xa hơn trên con đường hướng đến giải thoát tối hậu.
Khi Đức Phật xuất hiện trên thế gian, Ngài áp dụng cho phương cách đó cho chính Ngài. Khi Ngài bắt đầu công tác hoằng pháp như một vị đạo sư, Ngài thành lập Tăng đoàn theo cùng một nguyên tắc: Các tỳ-khưu và tỳ-khưu-ni, nghĩa là nam tu sĩ và nữ tu sĩ, sống tùy thuộc vào sự rộng lượng của hàng cư sĩ hỗ trợ vật chất. Các vị tu sĩ đáp lại bằng cách hiến tặng các thí chủ món quà quý giá của Giáo Pháp. Đó là lời giảng dạy về con đường cao thượng đưa đến hạnh phúc, an bình và giải thoát tối hậu. Kinh văn V,3(5) nêu rõ nguyên tắc tương trợ này. Khi chấp nhận các món quà của cư sĩ, những vị tu sĩ cho họ cơ hội tạo công đức. Bởi vì mức độ công đức từ hành động bố thí được xem như tỷ lệ thuận với mức độ xứng đáng của người nhận, khi người nhận là Đức Phật và những vị đi theo vết chân của Ngài, công đức trở nên vô lượng (xem thêm MN 142). Vì lẽ đó, Tăng đoàn Thanh văn (sāvakasaṅgha), là cộng đồng các vị thánh đệ tử, được gọi là “ruộng phước vô thượng trên đời” (anuttaraṃ puññakhetta lokassa). Quà cúng dường đến Tăng đoàn sẽ đưa đến các phước lành to lớn, đưa đến lợi lạc và hạnh phúc lâu dài và có thể giúp tái sinh vào các cõi trời. Nhưng Kinh văn V,3(6) cũng nhắc nhở chúng ta rằng điều này chỉ đúng “cho những người có đạo đức trong sạch, không phải cho những người thiếu đạo đức”.
Từ đó đưa đến phần kế tiếp của nền tảng công đức, “kỷ luật đạo đức, hay trì giới” (sīla), trong Phật giáo Sơ kỳ nghĩa là tuân thủ năm giới. Hướng dẫn đạo đức căn bản nhất trong kinh tạng Nikāya là ngũ giới – các điều học tránh sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và dùng các chất say. Các giới này được đề cập trong Kinh văn V,4(1), trong đó, có một xoay chuyển khá thú vị trong thuật ngữ, nói rằng các điều đó là “nguyên sơ, quà tặng truyền thống cổ xưa”, ngầm hiểu rằng trì giới (sīla) là nằm trong bố thí (dāna). Lý do việc tuân giữ các điều giới là một dạng bố thí vì người nào tuân giữ năm giới, người ấy “ban cho vô lượng chúng sinh sự tự do thoát khỏi sợ hãi, thù địch và áp bức”, và kết quả của nghiệp lành này là “người ấy sẽ hưởng được vô lượng tự do, thoát khỏi sợ hãi, thù địch và áp bức”.
Trong khi Đức Phật khuyến dạy các đệ tử cư sĩ luôn luôn tuân thủ năm giới, Ngài cũng khuyến khích họ tuân giữ một loại đạo đức nghiêm ngặt hơn trong ngày bố-tát (uposatha). Đó là những ngày trai giới theo âm lịch: ngày rằm, ngày đầu trăng và hai ngày giữa tuần trăng (trong các nước Phật giáo ngày nay, ngày rằm có vị trí ưu tiên hơn). Trong những ngày này, những cư sĩ Phật giáo tín thành tuân giữ tám giới. Đó là năm giới thông thường, nhưng với giới thứ ba chuyển thành tuyệt đối không hành dâm, cộng thêm ba giới khác tương tự như các học giới của sa-di và sa-di-ni. Tám giới này, liệt kê trong Kinh văn V,4(2), tăng cường việc huân tập giới đức như là một sự tu tập đạo đức trong việc tự kiềm chế, sống đơn giản và biết đủ. Trên phương diện này, các điều giới ấy giúp cho vị đệ tử chuẩn bị để huân tập tâm trong công phu hành thiền, nền tảng thứ ba của công đức.
Hành thiền không phải chỉ là trọng tâm của con đường giải thoát, mà còn là nguồn công đức theo đúng nghĩa. Các công phu hành thiền lành mạnh, ngay cả những pháp không trực tiếp đưa đến tuệ quán, giúp tinh lọc các cấp độ thô tháo của lậu hoặc và phát hiện chiều hướng thâm sâu của tâm thanh tịnh và chói sáng. Kinh văn V,5(1) tuyên bố rằng pháp thiền có nhiều kết quả nhất để tạo công đức hiệp thế là pháp phát triển lòng từ (mettābhāvanā). Tuy nhiên, thiền tâm Từ chỉ là một trong bốn pháp thiền gọi là bốn “phạm trú” (brahmavih̄āra) hay bốn “tâm vô lượng” (appamaññā). Phát triển từ, bi, hỷ, xả, phải được trải rộng, không giới hạn, đến tất cả chúng sinh. Vắn tắt, tâm Từ (mettā) là ước nguyện chúng sinh được an vui, hạnh phúc; tâm Bi (karuṇā) là sự thông cảm đến chúng sinh đang đau khổ; tâm Hỷ (muditā) là cùng vui với hạnh phúc và thành công của người khác; và tâm Xả (upekkhā) là phản ứng quân bình về hạnh phúc và đau khổ, giúp bảo vệ tâm, không bị ảnh hưởng bởi các cảm xúc khích động.
Các pháp thiền này được xem như là phương cách để tái sinh vào cõi phạm thiên – xem Kinh văn V,5(2). Trong khi các người bà-la-môn xem cõi phạm thiên là cõi cao nhất, đối với Đức Phật, đó chỉ là một cõi cao của tái sinh. Tuy nhiên, tâm định sinh ra từ các pháp thiền này, có thể được dùng như nền tảng để vun trồng tuệ quán và tuệ quán đưa đến giải thoát. Kinh văn V,5(3), phần cuối của chương này, xếp hạng các loại công đức khác nhau theo kết quả: Từ bố thí (với những loại tặng phẩm dựa theo cấp độ tâm linh của người nhận) xuyên qua việc quy y và tuân giữ năm giới, đến pháp thiền tâm Từ. Sau đó, đến đoạn cuối, bài kinh tuyên bố rằng kết quả tốt nhất là sự nhận thức về vô thường. Tuy nhiên, nhận thức về vô thường thuộc về một cấp độ khác. Nhận thức ấy có kết quả tốt nhất không phải là vì đem đến các điều an vui trong vòng tái sinh, nhưng là vì điều đó đưa đến tuệ quán để cắt đứt các chuỗi nô lệ ràng buộc và đem đến thực chứng giải phóng toàn bích, đó là Niết-bàn.
TRÍCH LỤC
Có bốn nghiệp này, này các tỳ-khưu, được Ta thuyết giảng sau khi chứng ngộ với thắng trí. Thế nào là bốn?
Có nghiệp đen, quả đen; có nghiệp trắng, quả trắng; có nghiệp đen trắng, quả đen trắng; có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến đoạn diệt nghiệp.
Và này các tỳ-khưu, thế nào là nghiệp đen, quả đen? Ở đây, này các tỳ-khưu, có người làm thân hành có tổn hại, làm khẩu hành có tổn hại, làm ý hành có tổn hại. Do làm như thế, người ấy tái sinh vào thế giới có tổn hại. Do người ấy sinh vào ở thế giới có tổn hại, các xúc có tổn hại đến với người ấy. Tiếp nhận các xúc có tổn hại, người ấy trực nghiệm những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ, như những chúng sinh trong địa ngục. Đây được gọi là nghiệp đen, quả đen.
Và này các tỳ-khưu, thế nào là nghiệp trắng, quả trắng? Ở đây, này các tỳ-khưu, có người làm thân hành không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không có tổn hại. Do làm như thế, người ấy tái sinh vào thế giới không có tổn hại. Do người ấy sinh vào thế giới không có tổn hại, các xúc không có tổn hại đến với người ấy. Tiếp nhận các xúc không có tổn hại, người ấy trực nghiệm những cảm thọ không có tổn hại, thuần nhất lạc, như chư thiên ở Biến tịnh thiên. Đây được gọi là nghiệp trắng, quả trắng.
Và này các tỳ-khưu, thế nào là nghiệp đen trắng, quả đen trắng? Ở đây, này các tỳ-khưu, có người làm thân hành có tổn hại và không tổn hại, làm khẩu hành có tổn hại và không tổn hại, làm ý hành có tổn hại và không tổn hại. Do làm như thế, người ấy tái sinh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại. Do người ấy sinh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, các xúc có tổn hại và không tổn hại đến với người ấy. Tiếp nhận các xúc có tổn hại và không tổn hại, người ấy trực nghiệm những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại, khổ và lạc xen lẫn nhau, như loài người và một số chư thiên ở các cõi trời thấp. Đây được gọi là nghiệp đen trắng, quả đen trắng.
Và này các tỳ-khưu, thế nào là nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến đoạn diệt nghiệp? Có tư tâm sở để đoạn tận nghiệp đen, quả đen; có tư tâm sở để đoạn tận nghiệp trắng, quả trắng; có tư tâm sở để đoạn tận nghiệp đen trắng, quả đen trắng. Đây được gọi là nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, đưa đến đoạn diệt nghiệp.
Có bốn nghiệp này, này các tỳ-khưu, được Ta thuyết giảng sau khi chứng ngộ với thắng trí.
(AN 4:232)
Như vậy, do nhân hành phi pháp, hành phi chánh đạo, này các gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Như vậy, do nhân hành đúng pháp, hành đúng chánh đạo, này các gia chủ, ở đây, một số loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện thú, thiên giới.
16-17. Này các gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sinh vào đại phú bà-la-môn ... đại phú gia chủ!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào đại phú gia chủ. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
18-42. Này các gia chủ, nếu một vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo, mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, tôi được sinh cộng trú với chư thiên Tứ thiên vương ... với chư thiên cõi trời Ba mươi ba ... với chư thiên Dạ-ma ... với chư thiên Ðâu-suất-đà ... với chư thiên Hóa lạc ... với chư thiên Tha hóa tự tại ... với chư thiên Phạm chúng ... với chư thiên Phạm phụ thiên ... với chư thiên Đại phạm thiên ... với chư thiên Thiểu Quang thiên ... với chư thiên Vô lượng quang thiên ... với chư thiên Quang minh thiên ... với chư thiên Thiểu tịnh thiên ... với chư thiên Vô lượng tịnh thiên ... với chư thiên Biến tịnh thiên ... với chư thiên Quảng quả thiên ... với chư thiên Vô tưởng thiên ... với chư thiên Vô đọa thiên ... với chư thiên Vô phiền thiên ... với chư thiên Thiện hiện thiên ... với chư thiên Thiện kiến thiên ... với chư thiên Vô song thiên ... với chư thiên Không vô biên xứ thiên ... với chư thiên Thức vô biên xứ thiên ... với chư thiên Vô sở hữu xứ thiên ... với chư thiên Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên!” Sự kiện này xảy ra, vị ấy sau khi thân hoại mạng chung được sinh cộng trú với chư thiên Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên. Vì sao vậy? Vì vị ấy là vị hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
(MN 41, Kinh Sāleyyaka)
Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì, giữa loài người với nhau, khi họ là loài người, lại thấy có người liệt, có người ưu?
Thanh niên Subha Todeyyaputta vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc. Do nghiệp ấy ... thiện thú ... sinh vào loài người, chỗ nào người ấy sinh ra, người ấy có nhiều tài sản. Con đường đưa đến nhiều tài sản nhỏ là có bố thí ... ngọa cụ, nhà cửa, đèn đuốc.
(MN 135, Tiểu kinh Nghiệp phân biệt)
Này các tỳ-khưu, chớ có sợ hãi các công đức. Công đức là đồng nghĩa với an lạc, cái gì khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý, tức là công đức. Này các tỳ-khưu, Ta thắng tri thọ hưởng quả dị thục, khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý trong một thời gian dài của các công đức đã làm thường xuyên.
Sau khi tu tập tâm Từ trong bảy năm, Ta đã không trở lui lại đời này trong bảy tăng-kỳ kiếp và hoại kiếp. Khi tăng-kỳ kiếp tăng, Ta sinh vào cõi Quang âm thiên. Khi tăng-kỳ kiếp giảm, Ta sinh vào lâu đài trống không ở thiên giới. Tại đấy, Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chinh phục, bậc nhìn thấy tất cả, bậc có quyền lực rộng lớn. Ba mươi sáu lần Ta đã là thiên chủ Ðế-thích. Nhiều trăm lần, Ta là vị vua Chuyển Luân, trị vì đúng pháp, bậc Pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, duy trì được sự an ổn trong quốc độ, bậc đầy đủ bảy báu. Còn nói gì khi Ta là vị vua ở địa phương?
Này các tỳ-khưu, Ta suy nghĩ như sau: “Quả này là do nghiệp nào Ta đã làm, là quả dị thục của nghiệp nào mà nay, Ta được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy?” Rồi Ta suy nghĩ như sau: “Ðây là quả ba nghiệp Ta đã làm, là quả dị thục của ba nghiệp, do đó, Ta nay được đại thần lực như vậy, đại uy lực như vậy. Đó là bố thí, tự nhiếp phục, tự chế ngự”.
(It 22; 14-15)
Này các tỳ-khưu, có ba căn bản tạo phước. Thế nào là ba? Căn bản tạo phước do bố thí, căn bản tạo phước do giới đức, căn bản tạo phước do tu thiền.
Có hạng người căn bản tạo phước do bố thí trên một quy mô nhỏ, căn bản tạo phước do giới đức trên một quy mô nhỏ, nhưng không đạt được căn bản tạo phước do tu thiền. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh làm người không may mắn.
Có hạng người căn bản tạo phước do bố thí trên một quy mô vừa, căn bản tạo phước do giới đức trên một quy mô vừa, nhưng không đạt được căn bản tạo phước do tu thiền. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh làm người có may mắn.
Có hạng người căn bản tạo phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản tạo phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản tạo phước do tu thiền. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời của Tứ đại thiên vương. Tại đấy, Tứ đại thiên vương sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua các vị trời khác trên mười điểm: Tuổi thọ, dung sắc, an lạc, danh tiếng, quyền lực, sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Có hạng người căn bản tạo phước do bố thí trên một quy mô to lớn, căn bản tạo phước do giới đức trên một quy mô to lớn, nhưng không đạt được căn bản tạo phước do tu thiền. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời Đao-lợi (Tāvatiṃsa). Tại đấy, vua trời Đế-thích (Sakka) sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do bố thí, sau khi làm thật nhiều căn bản phước nghiệp do giới đức, vượt qua các vị trời khác trên mười điểm: Tuổi thọ, dung sắc, an lạc, danh tiếng, quyền lực, sắc, thanh, hương, vị, xúc.
[Tương tự được sinh cộng trú với chư thiên Dạ-ma (Yāma), chư thiên Đâu-suất-đà (Tusita), chư thiên ở cõi Hóa lạc, chư thiên ở cõi Tha hóa tự tại.]
Này các tỳ-khưu, có ba căn bản phước nghiệp này.
(AN 8:36)
Này các tỳ-khưu, có bốn lòng tin tối thượng này. Thế nào là bốn?
Dù cho các loại hữu tình nào, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn, bậc A- la-hán, Chánh Ðẳng Giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào Đức Phật, họ đặt lòng tin vào sự tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào sự tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dù cho loại pháp hữu vi nào, Thánh đạo Tám ngành (Bát Chi Thánh Đạo) được xem là tối thượng, những ai đặt lòng tin vào Thánh đạo Tám ngành, họ đặt lòng tin vào sự tối thượng.
Với những ai đặt lòng tin vào sự tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dù cho loại pháp nào, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sinh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào Pháp, họ đặt lòng tin vào sự tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào sự tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Dù cho loại hội chúng nào, chúng Tăng đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả hội chúng ấy. Đó là bốn đôi tám vị, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở đời. Những ai đặt lòng tin vào chúng Tăng, họ đặt lòng tin vào sự tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào sự tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng.
Này các tỳ-khưu, đó là bốn lòng tin tối thượng. Tin tưởng vào tối thượng,
Biết được Pháp tối thượng, Tin tưởng Phật tối thượng, Ðáng tôn trọng vô thượng.
Tin tưởng Pháp tối thượng, Ly tham, an tịnh, lạc,
Tin tưởng Tăng tối thượng, Là ruộng phước vô thượng.
Bố thí bậc tối thượng,
Phước tối thượng tăng trưởng, Tối thượng về thọ mạng, Dung sắc và danh văn,
Tối thượng về an lạc, Tối thượng về sức mạnh.
Bậc trí thí tối thượng, Định vào Pháp tối thượng, Chư thiên hay loài người, Ðạt được hỷ tối thượng.
(AN 4:34)
Này các tỳ-khưu, nếu chúng sinh có thể biết như Ta đã biết về quả dị thục của sự san sẻ bố thí, họ sẽ không thụ hưởng nếu họ không bố thí và uế nhiễm xan tham không có ám ảnh và an trú trong tâm của họ. Dù là miếng cuối cùng của họ, dù là miếng ăn tối hậu, họ sẽ không thọ hưởng nếu họ không san sẻ, khi có người cần được san sẻ. Nhưng này các tỳ-khưu, nếu chúng sinh không biết như Ta đã biết về quả dị thục của sự san sẻ bố thí, họ sẽ thụ hưởng, không có bố thí và uế nhiễm xan tham ám ảnh và an trú trong tâm của họ.
(It 26; 18-19)
Này các tỳ-khưu, có tám lý do để bố thí. Thế nào là tám? Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Ngày trước tổ tiên đã bố thí, đã làm. Ta không xứng đáng nếu ta bỏ phế truyền thống gia đình này” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sinh lên thiện thú, thiên giới”, nên bố thí; vì nghĩ rằng: "Khi ta bố thí, tâm ta được tịnh tín, hân hoan, hỷ lạc được sinh”, nên bố thí; vì làm cho tâm trở nên cao quý, tâm được tô điểm, nên bố thí.
(AN 8:33)
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Koliya tại thị trấn tên là Sajjanela. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y cầm bát, đi đến nhà của bà Suppavāsā, người dân Koliya. Sau khi đến, Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi bà Suppavāsā, sau khi tự tay cúng dường Thế Tôn các món ăn loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn ăn đã xong, tay đã rời khỏi bát, bà Suppavāsā đến ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với bà ấy như sau:
(AN 4:57)
Này các tỳ-khưu, có năm loại bố thí này xứng bậc chân nhân. Thế nào là năm?
Bố thí có lòng tin, bố thí có kính trọng, bố thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép, bố thí không làm thương tổn mình và người.
Khi bố thí với lòng tin, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả là người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và người ấy đẹp trai, dễ nhìn, có thành tín và thành tựu dung sắc thù thắng như hoa sen.
Khi bố thí có cung kính, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả là người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các con trai, các bà vợ, các người nô tỳ, các người đưa tin, các người làm công, những người ấy đều sẵn sàng vâng theo người ấy, họ lóng tai và phục vụ với tâm hiểu biết.
Khi bố thí đúng thời, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả là người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và các vật dụng đến với người ấy đúng thời và sung túc.
Khi bố thí với tâm không gượng ép, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả là người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và hướng tâm thụ hưởng đầy đủ năm dục công đức.
Khi bố thí không làm thương tổn mình và người, quả dị thục của sự bố thí ấy đem lại kết quả là người ấy được giàu sang, đại phú, tài sản sung mãn; và tài sản của người ấy không bị tổn thất ở bất cứ nơi nào, từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ các người thù địch hay từ các người thừa tự.
Này các tỳ-khưu, đây là năm loại bố thí xứng bậc chân nhân.
(AN 5:148)
Này các tỳ-khưu, các người bà-la-môn và các gia chủ rất có lợi ích cho các thầy. Chính họ đã sắp đặt y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh cho các thầy. Này các tỳ-khưu, các thầy cũng rất có lợi ích cho các người bà-la-môn và gia chủ, vì các thầy thuyết pháp cho họ, pháp ấy sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, nói lên phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Như vậy, này các tỳ-khưu, phạm hạnh này được sống, do tương duyên với nhau, với mục đích vượt qua dòng nước mạnh, đoạn tận khổ đau.
(It 107)
Này các tỳ-khưu, có tám thọ sinh do bố thí. Thế nào là tám?
(1) Ở đây, này các tỳ-khưu, có người bố thí cho sa-môn hay bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Thấy các sát-đế-lỵ đại phú hay các bà-la- môn đại phú, hay các gia chủ đại phú, sung túc, đầy đủ, thọ hưởng năm dục trưởng dưỡng, người ấy suy nghĩ như sau: “Mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với sát-đế-lỵ đại phú, hay với bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú”. Người ấy khởi tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với sát-đế-lỵ đại phú, hay với bà-la-môn đại phú, hay với gia chủ đại phú. Ta nói rằng điều đó chỉ dành cho người có giới đức, không phải cho người ác giới; bởi vì do tâm thanh tịnh, người có giới đức được thành công điều mong muốn.
(2)-(7) Ở đây, này các tỳ-khưu, có người bố thí cho sa-môn hay bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Người ấy nghe rằng chư thiên ở cõi trời Tứ đại thiên vương sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc
... ở cõi trời Ba mươi ba ... ở cõi trời Dạ-ma ... ở cõi trời Ðâu- suất ... ở cõi trời Hóa lạc thiên ... ở cõi trời Tha hóa tự tại thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc. Người ấy mong muốn được tái sinh cộng trú với chư thiên ấy. Người ấy khởi tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời Tứ đại thiên vương ... ở cõi trời Ba mươi ba ... ở cõi trời Dạ-ma
... ở cõi trời Ðâu-suất ... ở cõi trời Hóa lạc thiên ... ở cõi trời Tha hóa tự tại thiên. Ta nói rằng điều đó chỉ dành cho người có giới đức, không phải cho người ác giới; bởi vì do tâm thanh tịnh, người có giới đức được thành công điều mong muốn.
(8) Ở đây, này các tỳ-khưu, có người bố thí cho sa-môn hay bà-la-môn với đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, dầu thoa, đồ nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy bố thí và mong hưởng quả. Người ấy nghe rằng chư thiên ở cõi trời Phạm thiên sống lâu, có dung sắc, được nhiều an lạc. Người ấy mong muốn được tái sinh cộng trú với chư thiên ấy. Người ấy khởi tâm như vậy, trú tâm như vậy, tu tâm như vậy, tâm người ấy hướng đến hạ liệt, không tu tập hướng thượng, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời Phạm thiên. Ta nói rằng điều đó chỉ dành cho người có giới đức, không phải cho người ác giới; bởi vì do tâm thanh tịnh, người có giới đức được thành công điều mong muốn.
Này các tỳ-khưu, tám pháp này là tám pháp thọ sinh do bố thí.
(AN 8:35)
Này các tỳ-khưu, có tám nguồn nước công đức là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc, là nhân sinh thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc. Thế nào là tám?
Ở đây, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử quy y Phật. Đây là nguồn nước công đức thứ nhất, là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc, là nhân sinh thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, vị thánh đệ tử quy y Pháp. Đây là nguồn nước công đức thứ hai, là nguồn nước thiện ... hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, vị thánh đệ tử quy y Tăng. Đây là nguồn nước công đức thứ ba, là nguồn nước thiện ... hạnh phúc, an lạc.
Này các tỳ-khưu, có năm bố thí này, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày, được biết là truyền thống cổ xưa, trước không tạp loạn, hiện tại không tạp loạn, tương lai không tạp loạn, không bị những sa-môn, những bà-la-môn có trí khinh thường. Thế nào là năm?
Ở đây, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh. Vị thánh đệ tử từ bỏ sát sinh, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sinh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sinh; sau khi cho vô lượng chúng sinh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày ... không bị những sa-môn, những bà-la-môn có trí khinh thường. Này các tỳ-khưu, đây là nguồn nước công đức thứ tư, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử đoạn tận lấy của không cho, từ bỏ lấy của không cho ... Đây là bố thí thứ hai, là đại bố thí, ... Đây là nguồn nước công đức thứ năm, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử đoạn tận tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà hạnh trong các dục ... Đây là bố thí thứ ba, là đại bố thí, ... Đây là nguồn nước công đức thứ sáu, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo ... Đây là bố thí thứ tư, là đại bố thí, ... Đây là nguồn nước công đức thứ bảy, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Vị thánh đệ tử đoạn tận đắm say rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, đem cho không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh, đem cho không hận thù cho vô lượng chúng sinh, đem cho không hại cho vô lượng chúng sinh; sau khi cho vô lượng chúng sinh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Đây là bố thí thứ năm, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày... không bị những Sa-môn, những bà-la- môn có trí khinh thường. Đây là nguồn nước công đức thứ tám, là nguồn nước thiện ... dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
Này các tỳ-khưu, tám nguồn nước công đức này là nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc, làm nhân sinh thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh phúc, an lạc.
(AN 8:39)
Này các tỳ-khưu, ngày trai giới được thành tựu bởi tám chi phần, nếu được thực hành thì có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn. Như thế nào là ngày trai giới được thành tựu bởi tám chi phần?
Ở đây, này các tỳ-khưu, vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành trai giới”. Ðây là chi phần thứ nhất được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Với chi phần này, Ta theo gương vị A- la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ hai được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận phi phạm hạnh, thực hành phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận phi phạm hạnh, thực hành phạm hạnh, sống xa lánh, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ ba được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt thế gian. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận nói láo, từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt thế gian. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ tư được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận đắm say men rượu men, rượu nấu, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ năm được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ sáu được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ bảy được thành tựu.
“Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Hôm nay, đêm nay và ngày nay, ta cũng đoạn tận, không dùng các giường cao, giường lớn, từ bỏ không dùng các giường cao, giường lớn. Với chi phần này, Ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới”. Ðây là chi phần thứ tám được thành tựu.
Này các tỳ-khưu, khi ngày trai giới được thành tựu bởi tám chi phần, nếu được thực hành thì có được quả lớn, có lợi ích lớn, có rực rỡ lớn, có biến mãn lớn. Ðến như thế nào là quả lớn? Ðến như thế nào là lợi ích lớn? Ðến như thế nào là rực rỡ lớn? Ðến như thế nào là biến mãn lớn?
Ví như, này các tỳ-khưu, có người áp đặt chủ quyền cai trị trên mười sáu quốc độ lớn này tràn đầy bảy báu, như Aṅga, Magadha, Kāsi, Kosala, Vajjī, Malla, Cetī, Vaṃsa, Kurū, Pañ- cāla, Maccha, Sūrasena, Assaka, Avantī, Gandhāra, Kamboja. Nhưng chủ quyền ấy không bằng một phần mười sáu của một ngày trai giới được thành tựu bởi tám chi phần. Vì cớ sao? Nhỏ nhoi thay, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư thiên.
Năm mươi năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên ở cõi trời của Tứ đại thiên vương. Ba mươi ngày ấy làm thành một tháng, mười hai tháng ấy làm thành một năm. Năm trăm năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên ở cõi trời của Tứ đại thiên vương. Sự kiện này có xảy ra, này các tỳ-khưu: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành trai giới được thành tựu bởi tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời của Tứ đại thiên vương”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư thiên”.
Một trăm năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên cõi trời Ba mươi ba ... Một ngàn năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên cõi trời Ba mươi ba ... Hai trăm năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên cõi trời Yāma ... Hai ngàn năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên cõi trời Yāma ... Bốn trăm năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên cõi trời Tusita ... Bốn ngàn năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên cõi trời Tusita
... Tám trăm năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên cõi trời Hóa lạc. Tám ngàn năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên cõi trời Hóa lạc ... Một ngàn sáu trăm năm của một đời người bằng một đêm một ngày của chư thiên cõi trời Tha hóa tự tại. Ba mươi ngày ấy làm thành một tháng, mười hai tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư thiên cõi trời Tha hóa tự tại. Sự kiện này có xảy ra, này các tỳ-khưu: “Ở đây, có người đàn bà hay đàn ông, sau khi thực hành ngày trai giới được thành tựu bởi tám chi phần, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư thiên cõi trời Tha hóa tự tại”. Do vậy, Ta nói: “Nhỏ nhoi thay, là quyền của loài người, so sánh với hạnh phúc chư thiên”.
(AN 8:41)
Này các tỳ-khưu, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sinh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu của Từ tâm giải thoát (sự giải thoát thông qua lòng Từ, mettāya cetovimutti). Chỉ có Từ tâm giải thoát vượt trội những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Ví như ánh sáng của chùm sao, tất cả ánh sáng ấy không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng của mặt trăng vượt trội ánh sáng của chùm sao chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sinh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu Từ tâm giải thoát. Chỉ có Từ tâm giải thoát vượt trội những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Ví như vào tháng cuối mùa mưa vào mùa thu, trên bầu trời thanh tịnh, các mây được quét sạch, mặt trời mọc lên trên bầu trời, phá tan mọi tối tăm ở hư không, chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sinh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu Từ tâm giải thoát. Chỉ có Từ tâm giải thoát vượt trội những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
Ví như khi đêm đã gần tàn, sao mai chói sáng, bừng sáng và rực sáng. Cũng vậy, phàm có những phước nghiệp sự nào đưa đến sinh y, tất cả những nghiệp sự ấy không bằng một phần mười sáu Từ tâm giải thoát. Chỉ có Từ tâm giải thoát vượt trội những nghiệp sự ấy, chói sáng, bừng sáng và rực sáng.
(It 27; 19-21)
Này thanh niên bà-la-môn, đây là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
25-27. Lại nữa, này thanh niên bà-la-môn, vị tỳ-khưu biến mãn một phương với tâm câu hữu với Bi ... với tâm câu hữu với Hỷ ... với tâm câu hữu với Xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này thanh niên bà-la-môn, khi tâm Xả giải thoát được tu tập như vậy, thì hành động giới hạn không có trú ở nơi đây, không có dừng lại ở nơi đây. Ví như, này thanh niên bà-la-môn, một người lực sĩ thổi tù và làm cho bốn phương nghe được, không gì khó khăn; cũng vậy, này thanh niên bà-la-môn, khi tâm Xả giải thoát được tu tập như vậy, thì hành động giới hạn không có trú ở nơi đây, không có dừng lại ở nơi đây.
Này thanh niên bà-la-môn, đây là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
(MN 99: Kinh Subha)
[Đức Phật nói với ông Cấp Cô Độc (Anāthapinḍịka):]
Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí có rộng lớn, nếu có ai bố thí cho một người có chánh kiến, bố thí này có quả lớn hơn quả bố thí kia. Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí có rộng lớn như bố thí cho 100 người có chánh kiến, nếu có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí rộng lớn như bố thí cho 100 vị Nhất lai, nếu có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí có rộng lớn như bố thí cho 100 vị Bất lai, nếu có ai bố thí cho một vị A-la- hán, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí có rộng lớn như bố thí cho 100 vị A-la-hán, nếu có ai bố thí cho một vị Phật Ðộc Giác, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Dù cho bà-la-môn Velāma bố thí rộng lớn cho 100 vị Phật Ðộc Giác, nếu có ai bố thí cho một vị Phật Chánh Ðẳng Giác, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Dù cho bà-la- môn Velāma bố thí có rộng lớn ... nếu có ai bố thí cho chúng tỳ-khưu với đức Phật là vị thượng thủ và xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương ... nếu ai có tâm tịnh tín đến qui y Phật, Pháp và Tăng và chấp nhận năm học pháp: Từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu ... nếu ai tu tập tâm Từ ngay trong khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia. Và nếu có ai dù chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng về vô thường, bố thí này có quả lớn hơn bố thí kia.
(AN 9:20, lược trích)
]
.
Website nghiên cứu về Đức Phật Thích Ca và cuộc đời của ngài qua 2 tạng kinh chính Nikaya và A Hàm
© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học
- 04/06/2025 22:00:00- 21 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 25 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 21 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 426 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 426 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 303 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 358 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 340 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 224 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 94 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 122 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 121 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 115 Lượt xem
- 04/06/2025 22:00:00- 128 Lượt xem