Layout Options

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Kinh Trường Bộ 034 Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta)
Vào một thời kia, đức Phật trú bên bờ hồ Già-già (Gaggara), gần thành Chiêm-bà (Campa), cùng với các vị Tỳ-kheo. Bấy giờ, vào buổi tối, Thế-Tôn mời Tôn-giả Xá-lợi-phất (Sariputta) thay-thế Ngài giảng pháp cho các vị Tỳ-kheo đang ngồi ngoài trời, chờ nghe kinh. Do đó, bản Kinh nầy được vị đại-đệ-tử bực nhứt của đức Phật thuyết-giảng. Cũng giống như Kinh Phúng-Tụng, Kinh Thập Thượng liệt-kê một trăm pháp-tu đã được Thế-Tôn giảng-dạy từ trước, nay Tôn-giả Xá-lợi-phất sắp-xếp lại theo thứ-tự từ một pháp cho đến mười pháp.
Tìm kiếm nhanh
student dp

ID:180

Các tên gọi khác

Vào một thời kia, đức Phật trú bên bờ hồ Già-già (Gaggara), gần thành Chiêm-bà (Campa), cùng với các vị Tỳ-kheo. Bấy giờ, vào buổi tối, Thế-Tôn mời Tôn-giả Xá-lợi-phất (Sariputta) thay-thế Ngài giảng pháp cho các vị Tỳ-kheo đang ngồi ngoài trời, chờ nghe kinh. Do đó, bản Kinh nầy được vị đại-đệ-tử bực nhứt của đức Phật thuyết-giảng. Cũng giống như Kinh Phúng-Tụng, Kinh Thập Thượng liệt-kê một trăm pháp-tu đã được Thế-Tôn giảng-dạy từ trước, nay Tôn-giả Xá-lợi-phất sắp-xếp lại theo thứ-tự từ một pháp cho đến mười pháp.
Kinh Trường Bộ 034 Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta)

 

 

 

I. Nội dung kinh


(Download file MP3 – 4.7 MB – Thời gian phát: 27 phút 21 giây.)
Kính mong quý độc giả xem kinh cùng góp sức hoàn thiện bằng cách gửi email về [email protected] để báo cho chúng tôi biết những chỗ còn có lỗi.

Như vầy tôi nghe.
Tụng phẩm I

1.Một thời Thế Tôn trú tại Campa (Chiêm-bà) trên bờ hồ Gaggara (Già-già), cùng với đại chúng Tỷ kheo khoảng năm trăm vị. Rồi tôn giả Sàriputta bảo các vị Tỳ kheo: “Này các Hiền giả Tỷ kheo”. “Thưa Hiền giả” các vị Tỷ kheo ấy đáp ứng tôn giả Sàriputta, tôn giả Sàriputta nói như sau:
Tôi nói Thập thượng pháp,
Pháp đưa đến Niết-bàn,
Diệt trừ mọi khổ đau,
Giải thoát mọi triền phược.

Một pháp

2. Này các Hiền giả, một pháp có nhiều tác dụng, một pháp cần phải tu tập, một pháp cần phải biến tri, một pháp cần phải đoạn trừ, một pháp chịu phần tai hại, một pháp đưa đến thù thắng, một pháp rất khó thể nhập, một pháp cần được sanh khởi, một pháp cần được thắng tri, một pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là một pháp có nhiều tác dụng? Bất phóng dật đối với các thiện pháp. Ðó là một pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là một pháp cần được tu tập? Niệm thân câu hữu với khả ý. Ðó là một pháp cần được tu tập.

iii) Thế nào là một pháp cần phải biến tri? Xúc hữu lậu hữu thủ. Ðó là một pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là một pháp cần phải đoạn trừ? Ngã mạn. Ðó là một pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là một pháp chịu phần tai hại? Bất chánh tác ý. Ðó là một pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là một pháp đưa đến thù thắng? Chơn chánh tác ý. Ðó là một pháp đưa đến thù thắng.

vii) Thế nào là một pháp rất khó thể nhập? Vô gián tâm định. Ðó là một pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là một pháp cần được sanh khởi? Bất động trí. Ðó là một pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là một pháp cần được thắng tri? Tất cả loài hữu tình do ăn uống mà an trú. Ðó là một pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là một pháp cần được tác chứng? Bất động tâm giải thoát. Ðó là một pháp cần được tác chứng.

Như vậy, mười pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Hai pháp

3. Có hai pháp có nhiều tác dụng, có hai pháp cần phải tu tập, có hai pháp cần phải biến tri, có hai pháp cần phải đoạn trừ, có hai pháp chịu phần tai hại, có hai pháp đưa đến thù thắng, hai pháp rất khó thể nhập, có hai pháp cần được sanh khởi, có hai pháp cần được thắng tri, có hai pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là hai pháp có nhiều tác dụng? Niệm và tỉnh giác. Ðó là hai pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là hai pháp cần phải tu tập? Chỉ và quán. Ðó là hai pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là hai pháp cần được biến tri? Danh và sắc. Ðó là hai pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là hai pháp cần phải đoạn trừ? Vô minh và hữu ái. Ðó là hai pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là hai pháp chịu phần tai hại? Ác ngôn và ác hữu. Ðó là hai pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là hai pháp hướng đến thù thắng? Thiện ngôn và thiện hữu. Ðó là hai pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là hai pháp rất khó thể nhập? Nhơn và duyên làm ác nhiễm các loài hữu tình. Nhân và duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình. Ðó là hai pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là hai pháp cần được sanh khởi? Tận trí và vô sanh trí. Ðó là hai pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là hai pháp cần được thắng tri? Hai giới: hữu vi giới và vô vi giới. Ðó là hai pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là hai pháp cần được tác chứng? Minh và giải thoát. Ðó là hai pháp cần được tác chứng.

Như vậy hai mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Ba pháp

4. Có ba pháp có nhiều tác dụng, có ba pháp cần phải tu tập, có ba pháp cần phải biến tri, có ba pháp cần phải đoạn trừ, có ba pháp chịu phần tai hại, có ba pháp đưa đến thù thắng, có ba pháp rất khó thể nhập, có ba pháp cần được sanh khởi, có ba pháp cần được thắng tri, có ba pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là ba pháp có nhiều tác dụng? Giao thiệp với thiện nhân, nghe diệu pháp, hành trì pháp và tùy pháp. Ðó là ba pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là ba pháp cần phải tu tập? Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định. Ðó là ba pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là ba pháp cần phải biến tri? Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðó là ba pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là ba pháp cần phải đoạn trừ? Ba ái: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Ðó là ba pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là ba pháp chịu phần tai hại? Ba bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si bất thiện căn. Ðó là ba pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là ba pháp đưa đến thù thắng? Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn. Ðó là ba pháp đưa đến thù thắng.

vii) Thế nào là ba pháp rất khó thể nhập? Ba xuất yếu giới: Xuất ly khỏi các dục vọng, tức là ly dục; xuất ly khỏi các sắc pháp, tức là vô sắc; phàm pháp gì hiện hữu, hữu vi, do duyên khởi, sự xuất ly khỏi pháp ấy tức là diệt. Ðó là ba pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là ba pháp cần phải sanh khởi? Ba trí: Trí đối với quá khứ, trí đối với tương lai, trí đối với hiện tại. Ðó là ba pháp cần phải sanh khởi.

ix) Thế nào là ba pháp cần được thắng tri? Ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Ðó là ba pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là ba pháp cần được tác chứng? Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh diệt trí minh, chư Lậu tận trí minh. Ðó là ba pháp cần được tác chứng.

Như vậy ba mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Bốn pháp

5. Có bốn pháp có nhiều tác dụng, có bốn pháp cần phải tu tập, có bốn pháp cần phải biến tri, có bốn pháp cần phải đoạn trừ, có bốn pháp chịu phần tai hại, có bốn pháp đưa đến thù thắng, có bốn pháp rất khó thể nhập, có bốn pháp cần được sanh khởi, có bốn pháp cần được thắng tri, có bốn pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là bốn pháp có nhiều tác dụng? Bốn bánh xe: Trú ở trung quốc, thân cận thắng nhân, chánh nguyện tự thân, tạo phước trong quá khứ. Ðó là bốn pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là bốn pháp cần phải tu tập? Bốn niệm xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị, Tỳ kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời; quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời. Ðó là bốn pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là bốn pháp cần phải biến tri? Bốn thực: Ðoàn thực loại cứng hay loại mềm, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư. Ðó là bốn pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là bốn pháp cần phải đoạn trừ? Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu. Ðó là bốn pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là bốn pháp chịu phần tai hại? Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Ðó là bốn pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là bốn pháp hướng đến thù thắng? Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách. Ðó là bốn pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là bốn pháp rất khó thể nhập? Bốn định: Xả phần định, chỉ phần định, thắng phần định, quyết trạch phần định. Ðó là bốn pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là bốn pháp cần được sanh khởi? Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí. Ðó là bốn pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là bốn pháp cần được thắng tri? Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế. Ðó là bốn pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là bốn pháp cần được tác chứng? Bốn Sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, A-la-hán quả. Ðó là bốn pháp cần được tác chứng.

Như vậy là bốn mươi pháp chân, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Năm pháp

6. Có năm pháp có nhiều tác dụng, có năm pháp cần phải tu tập, có năm pháp cần phải biến tri, có năm pháp cần phải đoạn trừ, có năm pháp chịu phần tai hại, có năm pháp đưa đến thù thắng, có năm pháp rất khó thể nhập, có năm pháp cần được sanh khởi, có năm pháp cần được thắng tri, có năm pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là năm pháp có nhiều tác dụng? Năm cần chi. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai – “Ðây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau. Ðó là năm pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là năm pháp cần được tu tập? Năm chánh định chi: Hỷ biến mãn, lạc biến mãn, tâm biến mãn, quang biến mãn, quán sát tướng. Ðó là năm pháp cần được tu tập.

iii) Thế nào là năm pháp cần phải biến tri? Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Ðó là năm pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là năm pháp cần phải đoạn trừ? Năm triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, thụy miên hôn trầm triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền cái. Ðó là năm pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là năm pháp chịu phần tai hại? Năm tâm hoang vu. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi là tâm hoang vu thứ nhất. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ … đối với Pháp… đối với Tăng… đối với học Pháp… Lại nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.

Ðó là năm pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là năm pháp hướng đến thù thắng? Năm căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Ðó là năm pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là năm pháp rất khó thể nhập? Năm giới hướng đến giải thoát. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân.

Ðó là năm pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là năm pháp cần được sanh khởi? Năm chánh định trí: “Ðây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc bậc Thánh, xuất thế”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này thuộc hàng hiền thiện thực hành”, tự mình khởi trí như vậy. “Ðịnh này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại”, tự mình khởi trí như vậy. “Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này”, tự mình khởi trí như vậy. Ðó là năm pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là năm pháp cần được thắng tri? Năm giải thoát xứ. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ năm.

Ðó là năm pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là năm pháp cần được tác chứng? Năm pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Ðó là năm pháp cần được tác chứng.

Như vậy năm mươi pháp này là thực, chân, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Sáu pháp

7. Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là sáu pháp có nhiều tác dụng? Sáu hòa kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.

Ðó là sáu pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là sáu pháp cần phải tu tập? Sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là sáu pháp cần phải biến tri? Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Ðó là sáu pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào là sáu pháp cần phải đoạn trừ? Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Ðó là sáu pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là sáu pháp chịu phần tai hại? Sáu bất cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo sống không cung kính, chống đối bậc Ðạo Sư, chống đối với Pháp… chống đối với Tăng… chống đối với học pháp… chống đối với bất phóng dật… Sống không cung kính, chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là sáu pháp hướng đến thù thắng? Sáu cung kính pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo cung kính, không chống đối bậc Ðạo sư… không chống đối với Pháp… không chống đối với Tăng… không chống đối với học pháp… không chống đối với bất phóng dật… cung kính, không chống đối sự tiếp đón niềm nở. Ðó là sáu pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là sáu pháp rất khó thể nhập? Sáu xuất ly giới. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta”. Vị ấy cần được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.

Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.

Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi”. Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”. Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. “Quan điểm “tôi có mặt” bị tôi từ khước. Quan điểm “tôi là cái này” không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh, an trú nơi tôi”. Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn “tôi có mặt”, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

Ðó là sáu pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là sáu pháp cần phải sanh khởi? Sáu hằng trú pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác; tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi niếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là sáu pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là sáu pháp cần được thắng tri? Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng. Ðó là sáu pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là sáu pháp cần được tác chứng? Sáu thắng trí. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo chứng được thần túc sai biệt… với thân có thể đến Phạm thiên giới; với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài Người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, xa và gần; với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham… tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát; nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời… nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức; với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài Người… biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình; với sự diệt trừ các lậu hoặc; sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại; đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Ðó là sáu pháp cần được tác chứng.

Như vậy sáu mươi pháp này là chân, thực, như thị, không phải không như thị, không có sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Bảy pháp

8. Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là bảy pháp, có nhiều tác dụng? Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Ðó là bảy pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là bảy pháp cần tu tập? Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Ðó là bảy pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là bảy pháp cần phải biến tri? Bảy thức trú. Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì cả”. Ðó là loại thức trú thứ bảy.

Ðó là bảy pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là bảy pháp cần được đoạn trừ? Bảy tùy miên: Tham dục tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Ðó là bảy pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là bảy pháp chịu phần tai hại? Bảy phi diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, ác tuệ. Như vậy là bảy pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là bảy pháp hướng đến thù thắng? Bảy diệu pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo có lòng tin, có tàm, có quý, đa văn, tinh cần, niệm hiện tiền, có trí tuệ. Như vậy là bảy pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là bảy pháp rất khó thể nhập? Bảy thượng nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tri pháp, tri nghĩa, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân. Như vậy là bảy pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là bảy pháp cần phải sanh khởi? Bảy tướng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, quá hoạn tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là bảy pháp cần phải sanh khởi.

ix) Thế nào là bảy pháp cần phải thắng tri? Bảy thù diệu sự. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai; tha thiết quán sát tự niệm và khát vọng quán sát tự niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.

Như vậy là bảy pháp cần phải thắng tri.

x) Thế nào là bảy pháp cần được tác chứng? Bảy lậu tận lực. Này các Hiền giả, ở đây, vị lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi với chánh tuệ. Này các Hiền giả, vị Lậu tận, Tỷ kheo chánh quán như chân với chánh tuệ tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi, chánh quán ấy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo ấy. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được sự diệt tận các lậu hoặc: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo, chánh quán như chân với chánh tuệ các dục vọng như lửa than hừng… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Lậu tận Tỷ kheo tâm hướng xuất ly, tâm thiên xuất ly, tâm nặng về xuất ly, tâm lấy xuất ly làm mục đích, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc trú. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, năm căn được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bảy Giác chi đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo… “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Này các Hiền giả, lại nữa, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập. Này các Hiền giả, đối với vị Lậu tận Tỷ kheo, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập, như vậy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỷ kheo. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỷ kheo biết được: “Các lậu hoặc của ta đã được diệt tận”.

Như vậy là bảy pháp cần được tu chứng. Như vậy bảy mươi pháp này là chơn, thực như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Tụng phẩm II

Tám pháp

1. Có tám pháp có nhiều tác dụng, có tám pháp cần phải tu tập, có tám pháp cần phải biến tri, có tám pháp cần phải đoạn trừ, có tám pháp chịu phần tai hại, có tám pháp đưa đến thù thắng, có tám pháp rất khó thể nhập, có tám pháp cần được sanh khởi, có tám pháp cần được thắng tri, có tám pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là tám pháp có nhiều tác dụng? Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được. Này các Hiền giả, ở đây, ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Như vậy là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.

Ai sống gần bậc Ðạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Người này thỉnh thoảng đến các vị ấy và đặt những câu hỏi: “Này Tôn giả, vấn đề này là thế nào? Vấn đề này nghĩa như thế nào?” Và các vị này đối với người ấy, nêu rõ những gì bị che khuất, phơi bày ra những gì bị giấu kín, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ. Như vậy là nhân thứ hai, duyên thứ hai đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.

Sau khi đã nghe pháp, vị này được hai sự an tịnh, an tịnh về thân và an tịnh về tâm. Như vậy là nhân thứ ba, duyên thứ ba, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự giới bổn Patimokka, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong các học pháp. Như vậy là nhân thứ tư, duyên thứ tư, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. Với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt chánh trí. Như vậy là nhân thứ năm, duyên thứ năm, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, vững chắc, kiên trì đối với các thiện pháp. Như vậy là nhân thứ sáu, duyên thứ sáu, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ điều làm đã lâu ngày, nói đã lâu ngày. Như vậy là nhân thứ bảy, là duyên thứ bảy, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống quán sát sự sanh diệt của năm thủ uẩn: Ðây là sắc, đây là tập của sắc, đây là diệt của sắc. Ðây là thọ… Ðây là tưởng… Ðây là hành… Ðây là thức. Ðây là tập của thức, đây là diệt của thức. Như vậy là nhân thứ tám, duyên thứ tám, đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được; đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn, nếu đã chứng được.

Như vậy là tám pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là tám pháp cần phải tu tập? Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Ðây là tám pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là tám pháp cần phải biến tri? Tám thế pháp: Ðắc và không đắc, không có thanh danh và có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ. Như vậy là tám pháp cần phải biến tri.

iv) Thế nào tám pháp cần được đoạn trừ? Tám tà: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Như vậy là tám pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là tám pháp chịu phần tai hại? Tám giải đãi sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: “Có công việc ta sẽ phải làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được, như vậy là giải đãi sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, một việc đã được vị Tỷ kheo làm. Vị này nghĩ: “Ta đã làm một công việc. Do ta làm một công việc nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… như vậy là giải đãi sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Khi ta đi con đường ấy, thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, con đường vị Tỷ kheo đã đi. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường, do ta đã đi con đường nên thân ta mệt mỏi. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ tư.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta bị mệt mỏi không lợi ích gì. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn. Như vậy là giải đãi sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: “Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: “Nay ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy ta nên nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn… Như vậy là giải đãi sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy ta hãy nằm xuống”. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được. Như vậy là giải đãi sự thứ tám.

Như vậy là tám pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là tám pháp hướng đến thù thắng? Tám tinh tấn sự. Này các Hiền giả, ở đây có việc vị Tỷ kheo phải làm, vị ấy nghĩ: “Có công việc, ta sẽ phải làm, nếu ta làm việc, thì không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Như vậy là tinh tấn sự thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: “Ta đã làm xong công việc. Khi ta làm công việc, ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta phải cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ hai.

Này các Hiền giả, lại nữa, có con đường vị Tỷ kheo phải đi. Vị này nghĩ: “Ðây là con đường mà ta có thể sẽ phải đi. Khi ta đi con đường ấy, không dễ gì ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ ba.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo đã đi con đường. Vị này nghĩ: “Ta đã đi con đường ấy. Khi ta đi con đường, ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ tư.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: “Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: “Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn…” Và vị ấy tinh tấn… Như vậy là tinh tấn sự thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: “Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của ta có thể trở lại. Vậy ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được”. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, thành tựu điều gì chưa thành tựu được, và chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Ðó là tinh tấn sự thứ tám.

Như vậy là tám pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là tám pháp rất khó thể nhập? Phạm hạnh trú, tám bất thời bất tiết. Này các Hiền giả, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ nhất.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào bàng sanh. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ hai.

… sanh vào ngạ quỷ… bất thời bất tiết thứ ba.

…sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài… bất thời bất tiết thứ tư.

…sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ năm.

Này các Hiền giả, lại nữa, có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: “Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà la môn đã chứng đạt chơn chánh, đã thực thành chơn chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ sáu.

Này các Hiền giả, lại nữa, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ bảy.

Này các Hiền giả, lại nữa Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, nhưng Pháp không được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến đến giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị, và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói. Ðó là Phạm hạnh trú, bất thời bất tiết thứ tám.

Như vậy là tám pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là tám pháp cần được sanh khởi? Tám Ðại nhân tầm: Pháp này cho người thiểu dục, pháp này không phải cho người đa dục; pháp này cho người tri túc, pháp này không phải cho người không tri túc; pháp này cho người an tịnh độc cư, pháp này không phải cho người ưa tụ hội; pháp này cho người siêng năng tinh tấn, pháp này không phải cho người giải đãi; pháp này cho người có niệm hiền tiền, pháp này không phải cho người thất niệm; pháp này là cho người có định tâm, pháp này không phải cho người không có định tâm; pháp này cho người có trí tuệ, pháp này không phải cho người có ác tuệ; pháp này cho người không ưa thích lý luận, pháp này không phải cho người ưa thích lý luận. Như vậy là tám pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là tám pháp cần được thắng tri? Tám thắng xứ. Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.

Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh – như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh – như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng – như bông kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng – như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ – như bông bandhujìvaka màu đỏ – như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.

Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng – như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám.

Như vậy là tám pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là tám pháp cần được chứng ngộ? Tám giải thoát.

Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là giải thoát thứ nhất.

Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là giải thoát thứ hai.

Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là giải thoát thứ ba.

Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “Hư không là vô biên” chứng và trú Không vô biên xứ; đó là giải thoát thứ tư.

Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư “Thức là vô biên” chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.

Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là giải thoát thứ sáu.

Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.

Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng, đó là giải thoát thứ tám.

Như vậy là tám pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy tám mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Chín pháp

2) Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được chứng ngộ.

i) Thế nào là chín pháp có nhiều tác dụng? Chín pháp tư duy về căn pháp. Do chánh tư duy, hân hoan sinh; do hân hoan, hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tỉnh; do tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân; do biết, nhờ thấy như chơn, yểm ly sanh; do yểm ly, ly dục sanh; do ly dục, vị ấy được giải thoát. Như vậy là chín pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là chín pháp cần phải tu tập? Chín thanh tịnh cần chi: Giới hạnh thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tâm thanh tịnh thanh tịnh cần chi, kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đoạn nghi thanh tịnh thanh tịnh cần chi, đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi, tuệ thanh tịnh thanh tịnh cần chi, giải thoát thanh tịnh thanh tịnh cần chi. Như vậy là chín pháp cần được tu tập.

iii) Thế nào là chín pháp cần được biến tri? Chín hữu tình trú. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: “Không có vật gì”. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.

Như vậy là chín pháp cần được biến tri.

iv) Thế nào là chín pháp cần phải đoạn trừ? Chín ái căn pháp. Do duyên ái, tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, đắc lợi sanh; do duyên đắc lợi, phân biệt sanh; do duyên phân biệt, tham dục sanh; do duyên tham dục, thủ trước sanh; do duyên thủ trước; chấp trì sanh; do duyên chấp trì, xan tham sanh; do duyên xam tham; hộ trì sanh; do duyên hộ trì, chấp trượng, chấp kiến, tránh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngôn, và các ác bất thiện pháp khai sanh. Như vậy là chín pháp cần phải đoạn trừ.

v) Thế nào là chín pháp chịu phần tai hại? Chín hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy đang làm hại tôi”, xung đột khởi lên. “Người ấy sẽ làm hại tôi”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến”… “người ấy đang làm hại… ” … “người ấy sẽ làm hại…”, xung đột khởi lên.

“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến”… “người ấy đang làm lợi…” …” người ấy sẽ làm lợi…”, xung đột khởi lên.

Như vậy là chín pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là chín pháp hướng đến thù thắng? Chín điều phục hại tâm. “Người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?”. Nhờ vậy xung đột được điều phục. “Người ấy sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy, xung đột được điều phục.

“Người ấy đã làm hại người tôi thương…”, …” người ấy đang làm hại…”, …” người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.

“Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến…”, …” người ấy đang làm lợi…”, …” người ấy sẽ làm lợi… Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy?” Nhờ vậy xung đột được điều phục.

Như vậy là chín pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là chín pháp rất khó thể nhập? Chín loại sai biệt. Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh; do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh; do duyên thọ sai biệt; tưởng sai biệt sanh; do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh; do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh; do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh; do duyên nhiệt tình sai biệt; tầm cầu sanh; do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh. Như vậy là chín pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là chín pháp cần được sanh khởi? Chín tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng. Như vậy là chín pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là chín pháp cần được thắng tri? Chín thứ đệ trú. Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ… Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: “Hư không là vô biên”. Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: “Thức là vô biên”. Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: “Không có sự vật gì tất cả”. Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.

Như vậy là chín pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là chín pháp cần được chứng ngộ? Chín thứ đệ diệt. Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.

Như vậy là chín pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy là chín mươi pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác, được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Mười pháp

3) Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.

i) Thế nào là mười phát có nhiều có tác dụng? Mười pháp hộ trì nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.

Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn… khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn… nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh… vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp… vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng… Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng… nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí… chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Như vậy là mười pháp có nhiều tác dụng.

ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập? Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến… Một vị biết được hỏa biến… Một vị biết được phong biến… Một vị biết được thanh biến… Một vị biết được hoàng biến… Một vị biết được xích biến… Một vị biết được bạch biến… Một vị biết được hư không biến… Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.

iii) Thế nào là mười pháp cần phải biến tri? Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Như vậy là mười pháp cần được biến tri

iv) Thế nào là mười pháp cần phải đoạn trừ? Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Như vậy là mười pháp cần được đoạn trừ.

v) Thế nào là mười pháp chịu phần tai hại? Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến. Như vậy là mười pháp chịu phần tai hại.

vi) Thế nào là mười pháp hướng đến thù thắng? Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, ly tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si. Như vậy là mười pháp hướng đến thù thắng.

vii) Thế nào là mười pháp rất khó thể nhập? Mười thánh cư: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ trì, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn trừ năm chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi. Này các hiền giả, như vậy là đoạn trừ năm chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đầy đủ sáu chi.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo một hộ trì? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo thành tựu sự hộ trì về niệm. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo một hộ trì.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo có thực hiện bốn y? Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sau khi suy tư, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp; sau khi suy tư tránh xa một pháp. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo thực hiện bốn y.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều? Này các Hiền giả, ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỷ kheo đều loại bỏ, phóng xả. Này các Hiền giả, như vậy gọi là Tỷ kheo loại bỏ các giáo điều.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo đoạn tận các mong cầu.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo, tâm tư không trệ phược.

Này các Hiền giả, thể nào là vị Tỷ kheo, thân hành được khinh an? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ- kheo thân hành được khinh an.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ- kheo, tâm thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ- kheo tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si. Này các Hiền giả, như vậy vị Tỷ kheo tâm thiện giải thoát.

Này các Hiền giả, thế nào là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ- kheo biết rằng: “Tham tâm của ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Sân tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai”. Vị ấy biết rằng: “Si tâm của ta đã đoạn trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai. Này các Hiền giả, như vậy là vị Tỷ kheo tuệ thiện giải thoát.

Như vậy là mười pháp rất khó thể nhập.

viii) Thế nào là mười pháp cần được sanh khởi? Mười tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng. Như vậy là mười pháp cần được sanh khởi.

ix) Thế nào là mười pháp cần được thắng tri? Mười đoạn tận sự: Tà kiến do chánh kiến đoạn tận; do duyên tà kiến, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh kiến các thiện pháp được tăng cường, viên mãn; tà tư duy do chánh tư duy đoạn tận… tà ngữ do chánh ngữ đoạn tận… tà nghiệp cho chánh nghiệp đoạn tận… tà mạng do chánh mạng đoạn tận… tà niệm do chánh niệm đoạn tận… tà định do chánh định đoạn tận… tà trí do chánh trí đoạn tận… tà giải thoát do chánh giải thoát đoạn tận… do duyên tà giải thoát, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận; do duyên chánh giải thoát, các thiện pháp này được tăng cường, viên mãn. Như vậy là mười pháp cần được thắng tri.

x) Thế nào là mười pháp cần được chứng ngộ? Mười vô học pháp: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm, vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.

Như vậy là mười pháp cần được chứng ngộ.

Như vậy một trăm pháp này là chơn, thực, như thị, không phải không như thị, không phải sai khác được Như Lai giác ngộ, chánh đẳng chánh giác.

Như vậy tôn giả Sàriputta thuyết giảng. Các vị Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của tôn giả Sàriputta.

 

Source link

II. Phần lược giảng

  1. KINHTHẬP THƯỢNG .
  2. TRONG TRƯỜNG-HỢP NÀO, BẢN KINHTHẬP THƯỢNGĐƯỢC GIẢNG?

Vào một thời kia, đức Phật trú bên bờ hồ Già-già (Gaggara), gần thành Chiêm-bà (Campa), cùng với các vị Tỳ-kheo. Bấy giờ, vào buổi tối, Thế-Tôn mời Tôn-giả Xá-lợi-phất (Sariputta) thay-thế Ngài giảng pháp cho các vị Tỳ-kheo đang ngồi ngoài trời, chờ nghe kinh. Do đó, bản Kinh nầy được vị đại-đệ-tử bực nhứt của đức Phật thuyết-giảng.

Cũng giống như Kinh Phúng-Tụng, Kinh Thập Thượng liệt-kê một trăm pháp-tu đã được Thế-Tôn giảng-dạy từ trước, nay Tôn-giả Xá-lợi-phất sắp-xếp lại theo thứ-tự từ một pháp cho đến mười pháp.

  1. NỘI-DUNG KINHTHẬP THƯỢNG.

A.- Ý Chánh: Mười điểm quan-trọng (Thập Thượng) cần lưu-ý khi học-tập một bản Kinh-Phật: phải biết pháp-tu: (1) có nhiều tác-dụng, (2) cần phải tu-tập, (3) cần phải biến-tri, (4) cần được đoạn-trừ, (5) cần biết chỗ nguy-hại, (6) đưa đến sự thù-thắng, (7) khó thể-nhập, (8) cần được sanh-khởi, (9) cần được thắng-tri, (10) cần được tác-chứng.

B.- Phân đoạn: Vì Kinh nầy là bản liệt-kê các pháp-tu nên rất khó cho việc phân ra thành từng đoạn như trong một dàn-bài. Xin dựa theo mười điểm quan-trọng vừa nêu trên để sắp-xếp lại nội-dung Kinh, nhưng vẫn giữ thứ-tự từ một pháp đến mười pháp.

  1. Pháp-tu có nhiều tác-dụng:(1) Bất phóng-dật; (2) Chánh-niệm và tỉnh-giác; (3) giao-thiệp với thiện-nhơn, nghe diệu-pháp, hành-trì pháp; (4) bốn bánh xe: cư-trú nơi đô-thị, gần bực thắng-nhơn, chánh-nguyện tự-thân, tạo phước trong quá-khứ; (5) năm cần-chi: tin-tưởng nơi đức-độ của Như-Lai (xem Kinh Phúng-Tụng), (6) sáu hoà-kính pháp (xem Kinh Phúng-Tụng); (7) bảy tài-sản; (8) tám nhân-duyên (ở gần bực Đạo-sư, có dịp thưa hỏi, nghe pháp thân-tâm được an-tịnh, giữ-gìn giới-bổn, đa-văn biết ghi nhớ nhiều, kiên-trì với thiện-pháp, có chánh-niệm, quán-sát sự sanh-diệt của năm thủ-uẩn); (9) chín pháp tư-duy về căn-pháp (từ tư-duy sanh ra hân-hoan-> hỷ -> tâm hoan-hỷ -> thân khinh-an -> lạc-thọ -> tâm định-tỉnh -> biết sự-việc như-thật -> yếm-ly -> ly-dục đưa đến giải-thoát); (10) mười pháp hộ-trì nhân (xem Kinh Phúng-Tụng).
  2. Pháp-tu cầnđược tu-tập: (1) niệm thân; (2) Chỉ và Quán; (3) Ba định (có tầm có tứ, không tầm có tứ, chẳng còn tầm và tứ); (4) Bốn Niệm-xứ; (5) Năm chi của chánh-định (hỷ biến-mãn, lạc biến-mãn, tâm biến-mãn, quang biến-mãn, quán-sát tướng); (6) sáu Tùy-niệm-xứ (niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên); (7) Bảy Giác-chi; (8) Bát-Chánh-Đạo; (9) Chín chi thanh-tịnh (giới, tâm, kiến, đoạn nghi, đạo phi-đạo tri-kiến, hành-trì tri-kiến, tri-kiến, tuệ, giải-thoát); (10) Mười biến-xứ (xem Kinh Phúng-Tụng).
  3. Pháp-tu cần phải biến-tri:(1)xúc hữu-lậu hữu-thủ; (2) Danh và Sắc; (3) Ba loại cảm-thọ; (4) Bốn thực (đoàn-thực, xúc-thực, tư-niệm-thực, thức-thực); (5) năm thủ-uẩn; (6) Sáu nội-xứ; (7) Bảy thức-trí (xem Kinh Phúng-Tụng); (8) Tám thế-pháp (x. Kinh Phúng-Tụng); (9) Chín hữu-tình-trú (Kinh Phúng-Tụng); (10) Mười xứ: nhãn, sắc, nhĩ, thanh, tỵ, hương, thiệt, vị, thân, xúc).
  4. Pháp cầnđược đoạn-trừ: (1) Ngã-mạn; (2) Vô-minh và hữu-ái; (3) Ba ái (dục-ái, hữu-ái và phi-hữu-ái); (4) bốn bộc-lưu (dục, hữu, kiến, vô-minh); (5) Năm triền-cái; (6) Sáu ái (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp); (7) bảy tùy-miên (xem Kinh Phúng-Tụng); (8) Tám Tà; (9) Chín ái-căn pháp (từ ái sanh ra tầm-cầu-> đắc lợi -> phân-biệt -> tham-dục -> thủ-trước -> chấp-trì ->xan-tham -> hộ-trì, đưa đến các ác-pháp); (10) Mười tà-pháp (tám tà, thêm: tà-trí và tà giải-thoát).
  5. Phápđưa tới sự tai-hại: (1) Bất-chánh tác-ý; (2) Ác-ngôn và ác-hữu; (3) Ba bất-thiện-căn (tham, sân, si); (4) bốn ách (dục-ách, hữu-ách, kiến-ách, vô-minh-ách); (5) năm Tâm hoang-vu (xem Kinh Phúng-Tụng); (6) sáu bất-cung-kính pháp (không cung-kính đối với Phật, Pháp, Tăng, học-pháp, bất-phóng-dật, tiếp-đón chẳng niềm-nỡ); (7) bảy phi-diệu-pháp (bất-tín, vô-tàm, vô-quý, thiểu-văn, giải-đãi, thất-niệm, ác-huệ); (8) Tám sự giải-đãi (xem Kinh Phúng-Tụng); (9) chín hại-tâm (xem Kinh Phúng-Tụng); (10) Mười nghiệp-đạo bất-thiện (xem Kinh Phúng-Tụng).
  6. Pháp-tu hướngđến sự thù-thắng: (1) Tác-ý chơn-chánh; (2) Thiện-ngôn và thiện-hữu; (3) Ba thiện-căn (vô-tham, vô-sân, vô-si); (4) bốn ly-ách (ly-dục ách, ly-hữu ách, ly-kiến-ách, ly vô-minh ách);(5) Năm căn: tín-căn, tấn-căn, niệm-căn, định-căn, tuệ-căn); (6) Sáu cung-kính-pháp (đối với Phật, Pháp, Tăng, học-pháp, bất-phóng-dật, tiếp-đón niềm-nỡ); (7) bảy diệu-pháp (tín, tàm, quý, đa-văn, tinh-cần, niệm hiện-tiền, tuệ); (8) Tám sự tinh-tấn (xem Kinh Phúng-Tụng); (9) chín sự điều-phục hại-tâm (xem Kinh Phúng-Tụng); (10) Mười nghiệp-đạo bất-thiện (xem Kinh Phúng-Tụng).
  7. Pháp-tu rất khó thể-nhập:(1) Vô-gián định-tâm; (2) Nhân và duyên làm ác-nhiễm loài hữu-tình, nhân và duyên làm thanh-tịnh loài hữu-tình; (3) Ba xuất-yếu-giới (ly-dục [xuất-ly khỏi các dục-vọng], vô-sắc [xuất-ly khỏi sắc-pháp], diệt [xuất-ly khỏi các pháp hữu-vi]); (4) bốn định (xả-phần định, chỉ-phần định, thắng-phần định, quyết-trạch-phần định); (5) Năm giới hướng đến giải-thoát (Kinh Ph.-Tụng); (6) Sáu xuất-ly-giới (Kinh Ph-Tụng); (7) bảy thượng-nhân pháp (tri pháp, tri nghiã, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân); (8) tám bất thời bất tiết, Phạm-hạnh trú (Kinh Phúng-Tụng, trừ sanh thân A-tu-la ra, còn tám); (9) Chín loại sai-biệt (do duyên giới sai-biệt, xúc sai-biệt sanh, do xúc -> thọ -> tưởng -> tư-duy -> dục -> nhiệt-tình -> tầm-cầu -> đắc-lợi sanh ra); (10) Mười Thánh-cư ( Kinh Ph.-Tụng).
  8. Pháp-tu cầnđược sanh-khởi: (1) Bất-động-trí; (2) Tận-trí và vô-sanh-trí; (3)Ba Trí (Trí đối với quá-khứ, hiện-tại, vị-lai); (4) Bốn Trí (pháp-trí, loại-trí, tha-tâm-trí, thế-tục-trí); (5) Năm chánh-định-trí (trong cơn định tự khởi lên trí biết: đời nầy đời sau được an-lạc, định nầy thuộc bực Thánh xuất-thế, định nầy thuộc hàng Hiền-thiện, định nầy thanh-lương hướng đến nhứt-tâm và an-tịnh, với chánh-niệm tôi nhập và xuất định nầy); (6) Sáu hằng-trú-pháp (an-trú xả-niệm khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vi, thân xúc chạm, ý nhận-thức pháp); (7) Bảy tưởng (vô-thường tưởng, vô-ngã tưởng, bất-tịnh tưởng, quá-hoạn tưởng, đoạn- trừ tưởng, ly-tham tưởng, diệt-tưởng); (8) Tám đại-nhân tầm (pháp nầy dành cho người thiểu-dục, tri-túc, độc-cư, năng tinh-tấn, giữ niệm hiện-tiền, có định-tâm, có trí-tuệ, chẳng ưa lý-luận); (9) Chín tưởng ( bất-tịnh tưởng, tử-tưởng, thực-yểm ly tưởng, nhứt-thiết thế-gian bất-lạc tưởng, vô-thường tưởng, khổ-tâm tưởng trên vô-thường, vô-ngã tưởng trên ngã, đoạn-trừ tưởng, vô-tham tưởng); (10) Mười tưởng (như chín tưởng trên, thêm vô-ngã tưởng trên vô-thường).
  9. Pháp-tu cầnđược thắng-tri: (1) tất cả loài hữu-tình do ăn-uống mà an-trú; (2) Hữu-vi giới và vô-vi giới; (3) Ba giới (dục-giới, sắc-giới, vô-sắc-giới); (4) bốn Thánh-đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo); (5) Năm giải-thoát-xứ (xem Kinh Phúng-Tụng); (6) Sáu chi vô-thượng (Kiến vô-thượng, văn vô-thượng, lợi-đắc vô-thượng, giới vô-thượng, hành vô-thượng, ức-niệm vô-thượng); (7) Bảy thù-diệu-sự (xem Kinh Phúng-Tụng); (8) Tám thắng-xứ (xem Kinh Phúng-Tụng); (9) Chín thứ-đệ-trú (xem Kinh Phúng-Tụng); (10) Mười đoạn-tận sự (chánh-kiến đoạn-tận tà-kiến cùng các ác-pháp đồng thời tăng-cường thiện-pháp, chánh tư-duy đoạn-tận tà-tư-duy, chánh-ngữ đoạn-tận tà-ngữ, chánh-nghiệp đoạn-tận tà-nghiệp, chánh-mạng đoạn-tận tà-mạng, chánh-niệm đoạn-tận tà-niệm, chánh-định đoạn-tận tà-định, chánh-giải-thoát đoạn-tận tà-giải-thoát.
  10. Pháp-tu cầnđược chứng-ngộ: (1) Bất-động tâm giải-thoát; (2)Minh và giải-thoát; (3) Ba minh (túc-mạng-minh, sanh-tử minh, lậu-tận minh); (4) Bốn quả Sa-môn ( Dự-lưu, Nhứt-lai, Bất-lai, A-la-hán); (5) Năm pháp-uẩn ( giới-uẩn, định-uẩn,tuệ-uẩn, giải-thoát uẩn, giải-thoát tri-kiến uẩn); (6) Sáu thắng-trí (thần-túc thông, thiên-nhãn, thiên-nhĩ, tha-tâm thông, túc-mạng thông, lậu-tận thông); (7) Bảy lậu-tận lực (dùng chánh-tuệ quán pháp hữu-vi vô-thường, quán các dục-vọng, tâm hướng xuất-ly, tu-tập bốn niệm an-trú, năm căn, bảy Giác-chi và Bát-Chánh-Đạo dùng làm sức mạnh để biết mình đã diệt-tận các lậu-hoặc); (8) Tám giải-thoát (Kinh Ph.-Tụng); (9) Chín thứ-đệ diệt (Kinh Ph.-Tụng); (10) Mười vô-học pháp (Kinh Phúng-Tụng).

Tôn-giả Xá-lợi-phất kết-thúc bài giảng như sau: ”Như vậy, một trăm pháp nầy là chơn-thật, như thị, …, không phải sai-khác, đã được Như- Lai giác-ngộ.”

  1. ĐỌC KINHTHẬP THƯỢNG, CHÚ-Ý ĐIỂM NÀO?

Kinh Thập Thượng liệt-kê 100 bản Kinh đã được đức Phật giảng, Tôn-giả Xá-lợi-phất sắp-xếp lại theo thứ-tự từ loại một pháp cho đến loại mười pháp nhưng với đặc-điểm là các pháp được qui vào mười đề-mục từ các pháp ”có nhiều tác-dụng” cho đến các pháp ”cần được chứng-ngộ”. Có lẽ đó là lý-do lấy hai chữ ”Thập Thượng” (mười điều trên cao) làm tên Kinh.

(TN. Mtl, 2006-03-26).

III. Video giảng giải

.

Giáo Án Trường Bộ Kinh

Kinh Thập Thượng (Dasuttara Sutta)

Xuất Xứ:

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng Pháp Thoại này cho 500 vị chư Tỳ Khưu Tăng tại CAMPÀ, trên bờ hồ GAGGARA.

“Ta nói Thập Thượng Pháp,

Diệt trừ mọi khổ đau,

Giải thoát mọi triền phược.” 

Duyên Khởi:

Kinh này được đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng tương tự với Kinh Phúng Tụng (bài 33), nhưng với Pháp Số có phân loại sai khác hơn. Thập Thượng Pháp đưa  đến Níp Bàn, diệt trừ mọi khổ đau, và giải thoát mọi triền phược.

Chánh Kinh:

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Một Pháp

Một Pháp có nhiều tác dụng. Một Pháp cần phải tu tập. Một Pháp cần phải biến tri. Một Pháp cần phải đoạn trừ. Một Pháp chịu phần tai hại. Một  Pháp đưa đến thù thắng. Một Pháp rất khó thể nhập. Một Pháp cần được sanh khởi. Một Pháp cần được thắng tri. Một Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào la một Pháp có nhiều tác dụng?

Bất Phóng Dật đối với các Thiện Pháp.

2.    Thế nào là một Pháp cần được tu tập?

Niệm Thân câu hữu với khả ý.

3.    Thế nào là một Pháp cần phải biến tri?

Xúc Hữu Lậu Hữu Thủ

4.    Thế nào là một Pháp cần phải đoạn trừ?

Ngã Mạn

5.    Thế nào là một Pháp chịu phần tai hại?

Bất Chánh Tác Ý

6.    Thế nào là một Pháp đưa đến thù thắng?

Chân Chánh Tác Ý

7.    Thế nào là một Pháp rất khó thể nhập?

Vô Gián Tâm Định

8.    Thế nào là một Pháp cần được sanh khởi?

Bất Động Trí

9.    Thế nào là một Pháp cần được thắng trí?

Tất cả loài hữu tình do ăn uống mà an trú.

10. Thế nào là một Pháp cần được tác chứng?

Bất Động Tâm giải thoát

*Như vậy, mười Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như  thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Hai Pháp

Hai Pháp có nhiều tác dụng. Hai Pháp cần phải tu tập. Hai Pháp cần  phải biến tri. Hai Pháp cần phải đoạn trừ. Hai  Pháp  chịu phần tai hại. Hai Pháp đưa đến thù thắng. Hai Pháp rất khó thể nhập. Hai Pháp cần được sanh khởi. Hai Pháp cần được thắng tri. Hai Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào là hai Pháp có nhiều tác dụng?

Chánh Niệm và Tỉnh Giác

2.    Thế nào là hai Pháp cần được tu tập?

Chỉ và Quán

3.    Thế nào là hai Pháp cần phải biến tri?

Danh và Sắc

4.    Thế nào là hai Pháp cần phải đoạn trừ?

Vô Minh và Hữu Ái

5.    Thế nào là hai Pháp chịu phần tai hại?

Ác Ngôn và Ác Hữu

6.    Thế nào là hai Pháp đưa đến thù thắng?

Thiện Ngôn và Thiện Hữu

7.    Thế nào là hai Pháp rất khó thể nhập?

Nhân và Duyên làm Ác Nhiễm các loài hữu tình.

Nhân và Duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình.

8.    Thế nào là hai Pháp cần được sanh khởi?

Tận Trí và Vô Sanh Trí

9.    Thế nào là hai Pháp cần được thắng trí?

Hữu Vi Giới và Vô Vi Giới

10. Thế nào là hai Pháp cần được tác chứng?

Minh và Giải Thoát

Như vậy, hai mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Ba Pháp

Ba Pháp có nhiều tác dụng. Ba Pháp cần phải tu tập. Ba Pháp cần phải biến tri. Ba Pháp cần phải đoạn trừ. Ba Pháp chịu phần tai hại. Ba Pháp đưa đến thù thắng. Ba Pháp rất khó thể nhập. Ba Pháp cần được sanh khởi. Ba Pháp cần được thắng tri. Ba Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào la ba Pháp có nhiều tác dụng?

  • Giao thiệp với Thiện Nhân
  • Được nghe Chân Diệu Pháp
  • Hành trì Pháp và Tùy Pháp

2.    Thế nào là ba Pháp cần được tu tập?

  • Hữu Tầm Hữu Tứ Định
  • Vô Tầm Hữu Tứ Định
  • Vô Tầm Vô Tứ Định

3.    Thế nào là ba Pháp cần phải biến tri?

Lạc Thọ, Khổ Thọ, Bất Lạc Bất Khổ Thọ

4.    Thế nào là ba Pháp cần phải đoạn trừ?

Dục Ái, Hữu Ái, và Phi Hữu Ái

5.    Thế nào là ba Pháp chịu phần tai hại?

Tham Bất Thiện Căn, Sân Bất Thiện Căn, Si Bất Thiện Căn

6.    Thế nào là ba Pháp đưa đến thù thắng?

Vô Tham Bất Thiện Căn, Vô Sân Bất Thiện Căn, Vô Si Bất Thiện Căn

7.    Thế nào là ba Pháp rất khó thể nhập? Ba Xuất Yếu Giới:

  • Xuất ly khỏi các Dục vọng, tức là Ly Dục.
  • Xuất ly khỏi các Sắc pháp, tức là Vô Sắc.
  • Xuất ly khỏi các Pháp hiện hữu, Pháp Hữu Vi, do duyên khởi, tức là Diệt.

8.    Thế nào là ba Pháp cần được sanh khởi?

  • Trí đối với quá khứ
  • Trí đối với vị lai
  • Trí đối với hiện tại

9.    Thế nào là ba Pháp cần được thắng trí?

Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới

10. Thế nào là ba Pháp cần được tác chứng?

  • Túc Mạng Trí Minh
  • Hữu Tình Sanh Diệt Trí Minh
  • Chư Lậu Tận Trí Minh
  • Như vậy, ba mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Bốn Pháp

Bốn Pháp có nhiều tác dụng. Bốn Pháp cần phải tu tập. Bốn Pháp cần phải biến tri. Bốn Pháp cần phải đoạn trừ. Bốn Pháp chịu phần tai hại. Bốn Pháp đưa đến thù thắng. Bốn Pháp rất khó thể nhập. Bốn Pháp cần được sanh khởi. Bốn Pháp cần được thắng tri. Bốn Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào là bốn Pháp có nhiều tác dụng?

  • Trú ở trung quốc
  • Thân cận bậc Thắng Nhân
  • Chánh nguyện tự thân
  • Kiến tạo phước báu trong quá khứ

2.    Thế nào là bốn Pháp cần được tu tập? Tứ Niệm Xứ:

  • Quán Thân trên Thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để diệt Tham Sân ở đời.
  • Quán Thọ trên các cảm thọ, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để diệt Tham Sân ở đời.
  • Quán Tâm trên Tâm, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để diệt Tham Sân ở đời.
  • Quán Pháp trên các Pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để diệt Tham Sân ở đời.

3.    Thế nào là bốn Pháp cần phải biến tri?

  • Đoàn Thực loại cứng hay loại mềm
  • Xúc Thực
  • Tư Niệm Thực
  • Thức Thực

4.    Thế nào là bốn Pháp cần phải đoạn trừ?

Dục Bộc Lưu, Hữu Bộc Lưu, Kiến Bộc Lưu, Vô Minh Bộc Lưu

5.    Thế nào là bốn Pháp chịu phần tai hại?

Dục Ách, Hữu Ách, Kiến Ách, Vô Minh Ách

6.    Thế nào là bốn Pháp đưa đến thù thắng?

Ly Dục Ách, Ly Hữu Ách, Ly Kiến Ách, Ly Vô Minh Ách

7.    Thế nào là bốn Pháp rất khó thể nhập?

Bốn Định: Xả phần định, Chỉ phần định, Thắng phần định, Quyết trạch phần định.

8.    Thế nào là bốn Pháp cần được sanh khởi?

Bốn Trí: Pháp Trí, Loại Trí, Tha Tâm Trí, Thế Tục Trí.

9.    Thế nào là bốn Pháp cần được thắng trí?

Tứ Thánh Đế: Khổ Thánh Đế, Khổ Tập Thánh Đế, Khổ Diệt Thánh Đế, Khổ Diệt Đạo Thánh Đế.

10. Thế nào là bốn Pháp cần được tác chứng?

Bốn  Sa Môn Quả:   Dự Lưu Quả, Nhất Lai Quả, Bất Lai Quả, và Vô Sinh Quả.

Như vậy, bốn mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Năm Pháp

Năm Pháp có nhiều tác dụng. Năm Pháp cần phải tu tập. Năm Pháp cần phải biến tri. Năm Pháp cần phải đoạn trừ. Năm Pháp chịu phần tai hại. Năm Pháp đưa đến thù thắng. Năm Pháp rất khó thể nhập. Năm Pháp cần được sanh khởi. Năm Pháp cần được thắng tri. Năm Pháp cần được tác chứng.

1.        Thế nào là năm Pháp có nhiều tác dụng?

  • Vị Tỳ khưu có lòng tin tưởng vào sự giác ngộ của đức Từ Phụ.
  • Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, quân bình thích hợp với sự tinh tấn.
  • Vị ấy không lường đảo, không dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc Đạo Sư, đối với các vị sáng suốt, hay đối với các vị đồng Phạm Hạnh.
  • Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì nỗ lực, không tránh né với các thiện pháp.
  • Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, là bậc Thánh hướng đến phân tích, đưa đến đoạn diệt một cách chân chánh các khổ đau.

2.       Thế nào là năm Pháp cần được tu tập?

Tứ Niệm Xứ:

Năm Chánh Định Chi: Hỷ biến mãn, Lạc biến mãn, Tâm biến mãn, Quang biến mãn, Quán sát tướng.

3.        Thế nào là năm Pháp cần phải biến tri? 

Năm Thủ Uẩn: Sắc Thủ Uẩn, Thọ Thủ Uẩn, Tưởng Thủ Uẩn, Hành Thủ Uẩn, Thức Thủ Uẩn.

4.        Thế nào là năm Pháp cần phải đoạn trừ? 

Năm Triền Cái: Tham Dục triền cái, Sân Độc triền cái, Hôn Thùy triền cái, Trạo Hối triền cái, Hoài Nghi triền cái.

Thế nào là năm Pháp chịu phần tai hại? Năm Tâm Hoang Vu:

  • Vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không thỏa mãn đối với vị Đạo Sư.
  • Vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không thỏa mãn đối với Pháp Bảo.
  • Vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không thỏa mãn đối với Tăng Bảo.
  • Vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không thỏa mãn đối với Điều Học.
  • Vị tỳ khưu nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không thỏa mãn đối với các vị đồng Phạm Hạnh.

6.        Thế nào là năm Pháp đưa đến thù thắng?

Năm Căn: Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn, Tuệ Căn.

7.        Thế nào là năm Pháp rất khó thể nhập? Năm Giới hướng đến sự giải thoát:

Vị tỳ khưu khéo tu, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị tỳ khưu được giải thoát và không còn cảm thọ cảm giác ấy.

Vị tỳ khưu khéo tu, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các sân hận. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các sân hận, vị tỳ khưu được giải thoát và không còn cảm thọ cảm giác ấy.

Vị tỳ khưu khéo tu, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các hại tâm, vị tỳ khưu được giải thoát và không còn cảm thọ cảm giác ấy.

Vị tỳ khưu khéo tu, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các sắc, vị tỳ khưu được giải thoát và không còn cảm thọ cảm giác ấy.

Vị tỳ khưu khéo tu, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với tự thân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị tỳ khưu được giải thoát và không còn cảm thọ cảm giác ấy.

8.        Thế nào là năm Pháp cần được sanh khởi? Năm Chánh Định Trí:

  • Định đưa hiện tại Lạc và Lạc quả vị lai. Tự mình khởi trí như vậy.
  • Định này thuộc bậc Thánh, xuất thế. Tự mình khởi trí như vậy.
  • Định này thuộc hàng Hiền Thiện thực hành. Tự mình khởi trí như vậy.
  • Định này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại. Tự mình khởi trí như vậy.
  • Chánh niệm và nhập định này, cũng như chánh niệm và xuất định này. Tự mình khởi trí như vậy.

9.        Thế nào là năm Pháp cần được thắng trí? Năm Giải Thoát Xứ:

Vị tỳ khưu được nghe từ bậc Đạo Sư, hay từ một vị đồng Phạm Hạnh đáng kính thuyết giảng, và được thấu hiểu nghĩa lý Giáo Pháp. Như vậy, hỷ tâm phát sanh, duyệt ý phát sanh, thân khinh an phát sanh, lạc thọ phát sanh, nhờ đó, Tâm được định tỉnh.

Vị tỳ khưu theo điều đã nghe, theo điều đã học, đem thuyết giảng một cách rộng rãi cho người khác, và được thấu hiểu nghĩa lý Giáo Pháp. Như vậy, hỷ tâm phát sanh, duyệt ý phát sanh, thân khinh an phát sanh, lạc thọ phát sanh, nhờ đó, Tâm được định tỉnh.

Vị tỳ khưu, dù không được nghe từ bậc Đạo Sư, hay từ một vị đồng Phạm Hạnh đáng kính thuyết giảng, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, nhưng tụng đọc Pháp một cách rõ ràng, và được thấu hiểu nghĩa lý Giáo Pháp. Như vậy, hỷ tâm phát sanh, duyệt ý phát sanh, thân khinh an phát sanh, lạc thọ phát sanh, nhờ đó, Tâm được định tỉnh.

Vị tỳ khưu, dù không được nghe từ bậc Đạo Sư, hay từ một vị đồng Phạm Hạnh đáng kính thuyết giảng, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc Pháp một cách rõ ràng, chỉ dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát Pháp ấy, và được thấu hiểu nghĩa lý Giáo Pháp. Như vậy, hỷ tâm phát sanh, duyệt ý phát sanh, thân khinh an phát sanh, lạc thọ phát sanh, nhờ đó, Tâm được định tỉnh.

Vị tỳ khưu, dù không được nghe từ bậc Đạo Sư, hay từ một vị đồng Phạm Hạnh đáng kính thuyết giảng, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc Pháp một cách rõ ràng, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát Pháp ấy, nhưng khéo nắm giữ một định tướng, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ, và được thấu hiểu nghĩa lý Giáo Pháp. Như vậy, hỷ tâm phát sanh, duyệt ý phát sanh, thân khinh an phát sanh, lạc thọ phát sanh, nhờ đó, Tâm được định tỉnh.

10.   Thế nào là năm Pháp cần được tác chứng?

Năm Pháp Uẩn:   Giới Uẩn, Định Uẩn, Tuệ Uẩn, Giải Thoát Uẩn, Giải Thoát Tri Kiến Uẩn.

Như vậy, năm mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Sáu Pháp

Sáu Pháp có nhiều tác dụng. Sáu Pháp cần phải tu tập. Sáu Pháp cần phải biến tri. Sáu Pháp cần phải đoạn trừ. Sáu Pháp chịu phần tai hại. Sáu Pháp đưa đến thù thắng. Sáu Pháp rất khó thể nhập. Sáu Pháp cần được sanh khởi. Sáu Pháp cần được thắng tri. Sáu Pháp cần được tác chứng.

1.      Thế nào là sáu Pháp có nhiều tác dụng?

Sáu Hòa Kính Pháp:

  • Vị tỳ khưu thành tựu từ thân nghiệp, sống hòa kính, cung kính với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
  • Vị tỳ khưu thành tựu từ ngữ nghiệp, sống hòa kính, cung kính với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
  • Vị tỳ khưu thành tựu từ ý nghiệp, sống hòa kính, cung kính với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
  • Vị tỳ khưu chia sẻ những vật thực được cúng dường một cách hợp pháp đến các vị tỳ khưu có giới hạnh. Vị ấy sống với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
  • Vị tỳ khưu sống giữ Giới Luật, không bị hư hoại, không vi phạm, kiên trì tuân hành, không tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến Thiền Định. Vị ấy sống với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
  • Vị tỳ khưu sống đời sống được Thánh Kiến hướng dẫn, chân chánh, đoạn diệt khổ đau. Vị ấy sống thành tựu với Chánh Kiến như vậy, sống với các vị đồng Phạm Hạnh, như là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, sự đoàn kết, hòa hợp, tâm đồng ý hợp.
    •  

2.   Thế nào là sáu Pháp cần được tu tập?

Sáu Tùy Niệm Xứ:

Phật Tùy Niệm, Pháp Tùy Niệm, Tăng Tùy Niệm, Giới Tùy Niệm, Thí Tùy Niệm, Thiên Tùy Niệm.

3.    Thế nào là sáu Pháp cần phải biến tri? Sáu Nội Xứ: Nhãn Xứ, Nhĩ Xứ, Tỷ Xứ, Thiệt Xứ, Thân Xứ, Ý Xứ.

4.    Thế nào là sáu Pháp cần phải đoạn trừ? Sáu Ái Thân: Sắc Ái, Thinh Ái, Khí Ái, Vị Ái, Xúc Ái, Pháp Ái.

5.    Thế nào là sáu Pháp chịu phần tai hại?

Sáu Bất Cung Kính Pháp:

  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với bậc Đạo Sư.
  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với Pháp Bảo.
  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với Tăng Bảo.
  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với Điều Học.
  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với không phóng dật.
  • Vị tỳ khưu sống bất cung kính, bất tùy thuận với sự lễ phép, xã

5.    Thế nào là sáu Pháp đưa đến thù thắng?

Sáu Cung Kính Pháp:

  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với bậc Đạo Sư.
  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với Pháp Bảo.
  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với Tăng Bảo.
  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với Điều Học.
  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với không phóng dật.
  • Vị tỳ khưu sống cung kính, tùy thuận với sự lễ phép, xã

7.    Thế nào là sáu Pháp rất khó thể nhập?

Sáu Xuất Ly Giới:

  • Tu tập Từ Tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần thì có khả năng giải thoát Sân Tâm.
  • Tu tập Bi Tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần thì có khả năng giải thoát Hại Tâm.
  • Tu tập Hỷ Tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần thì có khả năng giải thoát Bất Lạc Tâm.
  • Tu tập Xả Tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần thì có khả năng giải thoát Tham Tâm.
  • Tu tập Vô Tướng Tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần thì có khả năng giải thoát tất cả Tướng.
  • Tu tập khước từ sự ngạo mạn “Tôi có mặt,” “Tôi là cái này,” mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

8.    Thế nào là sáu Pháp cần được sanh khởi? Sáu Hằng Trú Pháp:

  • Vị tỳ khưu với mắt thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
  • Vị tỳ khưu với tai nghe tiếng, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
  • Vị tỳ khưu với mũi ngửi mùi hơi, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
  • Vị tỳ khưu với lưỡi nếm các vị, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xs3, chánh niệm, tỉnh giác.
  • Vị tỳ khưu với thân cảm xúc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
  • Vị tỳ khưu với ý nhận thức Pháp, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.

9.    Thế nào là sáu Pháp cần được thắng trí?

Sáu Vô Thượng Chi:

Kiến Vô Thượng, Văn Vô Thượng, Lợi Đắc Vô Thượng, Giới Vô Thượng, Hành Vô Thượng, Ức Niệm Vô Thượng.

10.    Thế nào là sáu Pháp cần được tác chứng?

Sáu Thắng Trí:

  • Thần Túc Thắng Trí, thân có thể đi đến Phạm Thiên Giới.
  • Thiên Nhĩ Thắng Trí, vượt khỏi loài người, nghe được hai loại âm thanh, Chư Thiên và Nhân Loại, xa và gần.
  • Tha Tâm Thắng Trí, biết được tâm tánh của chúng Hữu Tình.
  • Túc Mạng Thắng Trí, biết được rất nhiều đời quá khứ, với đầy đủ các chi tiết và các hình thức.
  • Thiên Nhãn Thắng Trí, vượt khỏi loài người, biết được các loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình.
  • Lậu Tận Thắng Trí, với sự diệt trừ các Lậu Hoặc, sau khi tự tri, tự chứng ngay trong kiếp hiện tại, đạt đến và an trú Vô Lậu, tâm được giải thoát, huệ giải thoát.
  • Như vậy, sáu mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ, Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại Đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Bảy Pháp

*Bảy Pháp có nhiều tác dụng. Bảy Pháp cần phải tu tập.  Bảy Pháp cần  phải biến tri. Bảy Pháp cần phải đoạn trừ. Bảy Pháp chịu phần tai hại. Bảy Pháp đưa đến thù thắng. Bảy Pháp rất khó thể nhập. Bảy Pháp cần được sanh khởi. Bảy Pháp cần được thắng tri. Bảy Pháp cần được tác chứng.

1.   Thế nào là bảy Pháp có nhiều tác dụng?

Bảy Tài Sản:

Tín Tài, Giới Tài, Tàm Tài, Quý Tài, Văn Tài, Thí Tài, Tuệ Tài.

2.   Thế nào là bảy Pháp cần được tu tập?

Thất Giác Chi:

Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi, Xả Giác Chi.

3.   Thế nào là bảy Pháp cần phải biến tri?

Bảy Thức Trú:

  • THÂN DỊ TƯỞNG DỊ: Thân hình khác nhau, tư tưởng khác nhau, như là Nhân Loại, Chư Thiên, và một số trong Địa Ngục.
  • THÂN DỊ TƯỞNG ĐỒNG: Thân hình khác nhau, nhưng tư tưởng giống nhau, như là các vị Phạm Chúng Thiên ở tầng Sơ Thiền.
  • THÂN ĐỒNG TƯỞNG DỊ: Thân hình giống nhau, nhưng tư tưởng khác nhau, như là các vị Quang Âm Thiên ở tầng Nhị Thiền.
  • THÂN ĐỒNG TƯỞNG ĐỒNG: Thân hình giống nhau và tư tưởng cũng giống nhau, như là các vị Biến Tịnh Thiên ở tầng Tam Thiền.
  • KHÔNG VÔ BIÊN XỨ: Vượt khỏi mọi sắc tưởng, đoạn trừ tất cả hữu đối tưởng, không còn suy tư đến bất luận một dị loại tưởng, như là các vị Không Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • THỨC VÔ BIÊN XỨ: Vượt khỏi Không Vô Biên Xứ, chỉ có tưởng “Thức là vô biên,” như các vị Thức Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • VÔ SỞ HỮU XỨ: Vượt khỏi Thức Vô Biên Xứ, chỉ có tưởng “Vô Sở Hữu” (lấy đề mục “không có chi cả” làm cảnh giới), như là các vị Vô Sở Hữu Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.

4.    Thế nào là bảy Pháp cần phải đoạn trừ?

Thất Tùy Miên:

Tham Dục tùy miên, Sân Độc tùy miên, Tà Kiến tùy miên, Hoài Nghi tùy miên, Ngã Mạn tùy miên, Hữu Ái tùy miên, Vô Minh tùy miên.

5.    Thế nào là bảy Pháp chịu phần tai hại?

Bảy Phi Diệu Pháp:

Bất Tín, Vô Tàm, Vô Quý, Thiểu Văn, Giải Đãi, Thất Niệm, Ác Tuệ.

6.    Thế nào là bảy Pháp đưa đến thù thắng?

Bảy Chân Diệu Pháp:

Tín, Tàm, Quý, Đa Văn, Tinh Cần, Niệm hiện tiền, Trí Tuệ.

7.    Thế nào là bảy Pháp rất khó thể nhập?

Bảy Thượng Nhân Pháp:

Tri Pháp, Tri Nghĩa, Tri Ngã, Tri Lượng, Tri Thời, Tri Chúng, và Tri Nhân.

8.    Thế nào là bảy Pháp cần được sanh khởi?

Bảy Tưởng:

Vô Thường Tưởng, Vô Ngã Tưởng, Bất Tịnh Tưởng, Quá Hoạn Tưởng, Đoạn Trừ Tưởng, Ly Tham Tưởng, và Diệt Tưởng.

9.    Thế nào là bảy Pháp cần được thắng trí?

Bảy Thù Diệu Sự:

  • Vị tỳ khưu tha thiết hành trì Học Pháp và khao khát hành trì Học Pháp trong vị
  • Vị tỳ khưu tha thiết Quán Pháp và khao khát Quán Pháp trong vị
  • Vị tỳ khưu tha thiết điều phục các dục vọng và khao khát điều phục các dục vọng trong vị
  • Vị tỳ khưu tha thiết sống an tịnh và khao khát sống an tịnh trong vị lai.
  • Vị tỳ khưu tha thiết sống tinh tấn và khao khát sống tinh tấn trong vị lai.
  • Vị tỳ khưu tha thiết quán sát tự niệm và khao khát quán sát tự niệm trong vị
  • Vị tỳ khưu tha thiết với kiến giải và khao khát hiểu biết sở kiến trong vị

Thế nào là bảy Pháp cần được tác chứng?

Bảy Lậu Tận Lực:

  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, quán sát chân chánh về đặc tướng Vô Thường của tất cả Pháp Hữu Vi với Chánh Tuệ. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, quán sát chân chánh thấy các Dục Vọng như lửa than hừng. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, với tâm hướng xuất ly, tâm thiên về xuất ly, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, năm quyền được tu tập, khéo tu tập. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, bảy giác chi được tu tập, khéo tu tập. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.
  • Vị Lậu Tận tỳ khưu với Chánh Tuệ, tám Thánh Đạo được tu tập, khéo tu tập. Với Chánh Quán thành sức mạnh, vị tỳ khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc.

*Như vậy, bảy mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Tám Pháp

*Tám Pháp có nhiều tác dụng. Tám Pháp cần phải tu tập. Tám Pháp cần phải biến tri. Tám Pháp cần phải đoạn trừ. Tám Pháp chịu phần tai hại. Tám Pháp đưa đến thù thắng. Tám Pháp rất khó thể nhập.  Tám Pháp  cần được sanh khởi. Tám Pháp cần được thắng tri. Tám Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào là tám Pháp có nhiều tác dụng?

  • Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được, đưa đến sự bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
  • Vị tỳ khưu, do sống gần bậc Đạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm Hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy Tàm Quý được sắc xảo, ái lạc và cung kính được an trú.
  • Vị tỳ khưu, do được học hỏi và vấn đáp với bậc Đạo Sư, hoặc vị đồng Phạm Hạnh đáng tôn kính, như vậy những gì bị che khuất được phơi bày, những gì bị dấu kín được giải tỏ, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ.
  • Sau khi được nghe Pháp, vị tỳ khưu có được hai sự an tịnh, Thân an tịnh và Tâm an tịnh.
  • Vị tỳ khưu thọ trì và giữ giới, sống chế ngự thu thúc với sự chế ngự giới bổn PÀTIMOKKHA, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh, và tu học trong các học pháp.
  • Vị tỳ khưu đa văn, ghi nhớ điều đã được nghe, tích lũy điều đã được nghe. Với các Pháp Sơ Thiện, Trung Thiện, Hậu Thiện, nghĩa văn cụ túc, đề cao Phạm Hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Với những Pháp ấy, vị tỳ khưu nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt nhờ Chánh Trí.
  • Vị tỳ khưu sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các Ác Pháp, thành tựu các Thiện Pháp, vững chắc, kiên trì đối với Thiện Pháp.
  • Vị tỳ khưu có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ những việc đã được làm, những lời đã nói.
  • Vị tỳ khưu sống quán sát sự sanh diệt của Ngũ Thủ Uẩn, như đây là Sắc, là Tập của Sắc, là Diệt của Sắc, là Con Đường diệt của Sắc, v…

2.    Thế nào là tám Pháp cần được tu tập?

Bát Thánh Đạo:

Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.

3.    Thế nào là tám Pháp cần phải biến tri?

Tám Thế Pháp:

Đắc và không đắc, có thanh danh và không có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ.

4.    Thế nào là tám Pháp cần phải đoạn trừ?

Tám Tà:

Tà Kiến, Tà Tư Duy, Tà Ngữ, Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Tinh Tấn, Tà Niệm, Tà Định.

5.    Thế nào là tám Pháp chịu phần tai hại?

Tám Giải Đãi Sự:

  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi sắp có công việc phải làm. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi đã làm một công việc. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi sắp phải lên đường đi xa. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi vừa mới đi xa trở về. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi đi khất thực và không có được vật thực như ý. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi đi khất thực và có được vật thực như ý. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi vừa mới ngã bệnh nhẹ. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc nằm nghỉ khi vừa mới hết bệnh. Do đó, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.

6.    Thế nào là tám Pháp đưa đến thù thắng?

Tám Tinh Tấn Sự:

  • Vị tỳ khưu nghĩ tới sắp có công việc phải làm, và khi làm công việc thì không có thời gian để suy tư đến Giáo Pháp Chư Phật. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới công việc đã làm xong, và khi làm công việc thì không có thời gian để suy tư đến Giáo Pháp Chư Phật. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc sắp phải lên đường đi xa, và khi phải lên đường đi xa, thì không có thời gian để suy tư đến Giáo Pháp Chư Phật. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc khi vừa đã đi xa trở về, và khi đã đi xa thì không có thời gian để suy tư đến Giáo Pháp Chư Phật. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc đi khất thực và không có được vật thực như ý. Sắc Thân được nhẹ nhàng và có thể làm việc. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc đi khất thực và có được vật thực như ý. Sắc Thân được khỏe mạnh và có thể làm việc. Do đó, cố gắng tinh  tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc vừa mới ngã bệnh nhẹ. Tâm liền nghĩ đến căn bệnh có thể trở nặng thêm. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
  • Vị tỳ khưu nghĩ tới việc vừa mới hết bệnh. Tâm liền nghĩ đến căn bệnh có thể tái phát. Do đó, cố gắng tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.

7.    Thế nào là tám Pháp rất khó thể nhập? Phạm Hạnh Trú với tám bất thời bất tiết:

  • Có những hữu tình sanh trong địa ngục, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào hàng bàng sanh, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào hàng ngạ quỷ, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào hàng Chư Thiên hưởng thọ mạng lâu dài, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào các biên địa, giữa những chúng sanh hoang dã vô trí và không có hàng Tứ Chúng (Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Cận Sự Nam, Cận Sự Nữ) sinh sống, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo các tà kiến điên đảo, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào các trung quốc, nhưng lại Ác Tuệ, sanh làm người Nhị Nhân, ngay khi bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.
  • Có những hữu tình sanh vào các trung quốc, nhưng có Trí Tuệ, sanh làm người Tam Nhân, ngay khi không có bậc Chánh Đẳng Giác hiện hữu trong đời và khéo thuyết giảng Chánh Pháp.

8.    Thế nào là tám Pháp cần được sanh khởi? Tám Đại Nhân Tầm:

  • Pháp này cho người thiểu dục, Pháp này không phải cho người đa dục.
  • Pháp này cho người tri túc, Pháp này không phải cho người không tri túc.
  • Pháp này cho người an tịnh độc cư, Pháp này không phải cho người ưa tụ hội.
  • Pháp này cho người siêng năng tinh tấn, Pháp này không phải cho người giải đãi.
  • Pháp này cho người có niệm hiện tiền, Pháp này không phải cho người thất niệm.
  • Pháp này cho người có định tâm, Pháp này không phải cho người không có định tâm.
  • Pháp này cho người có trí tuệ, Pháp này không phải cho người có ác tuệ.
  • Pháp này cho người không ưa thích lý luận, Pháp này không phải cho người ưa thích lý luận.

9.    Thế nào là tám Pháp cần được thắng trí?

Tám Thắng Xứ:

  • Hành giả quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, và xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, và xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, và xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, và xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc với sắc tướng xanh, hình sắc xanh, với cả hai mặt láng trơn. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc với sắc tướng vàng, hình sắc vàng, với cả hai mặt láng trơn. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc với sắc tướng đỏ, hình sắc đỏ, với cả hai mặt láng trơn. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”
  • Hành giả quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc với sắc tướng trắng, hình sắc trắng, với cả hai mặt láng trơn. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, có sự nhận biết, có sự nhận thấy.”

10.   Thế nào là tám Pháp cần được tác chứng?

Tám Giải Thoát:

  • Tự mình có sắc, thấy các sắc.
  • Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc.
  • Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy.
  • Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên,” chứng và trú Không Vô Biên Xứ.
  • Vượt khỏi hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, với suy tư “thức là vô biên,” chứng và trú Thức Vô Biên Xứ.
  • Vượt khỏi hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, với suy tư “không có chi cả,” chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ.
  • Vượt khỏi hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, với suy tư “chẳng phải tưởng, chẳng phải chẳng phải tưởng,” chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
  • Vượt khỏi hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.

*Như vậy, tám mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Chín Pháp

  • Chín Pháp có nhiều tác dụng. Chín Pháp cần phải tu tập. Chín Pháp cần phải biến tri. Chín Pháp cần phải đoạn trừ. Chín Pháp chịu phần tai hại.
  • Chín Pháp đưa đến thù thắng. Chín Pháp rất khó thể nhập. Chín Pháp  cần được sanh khởi. Chín Pháp cần được thắng tri. Chín Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào là chín Pháp có nhiều tác dụng?

Chín Chánh Tư Duy Căn Pháp:

  • Do Chánh Tư Duy, hân hoan
  • Do hân hoan, hỷ
  • Do Tâm hoan hỷ, Thân được khinh
  • Do Thân khinh an, Lạc thọ
  • Do Lạc thọ, Tâm được định tỉnh.
  • Nhờ Tâm định tỉnh, biết được, thấy được sự vật như chân.
  • Nhờ biết, nhờ thấy như chân, yểm ly
  • Do yểm ly sanh, ly dục
  • Nhờ ly dục sanh, vị tỳ khưu được giải thoát.

2.    Thế nào là chín Pháp cần được tu tập?

Chín Thanh Tịnh Cần Chi:

  • Giới thanh tịnh cần chi
  • Tâm thanh tịnh cần chi
  • Kiến thanh tịnh cần chi
  • Đoạn nghi thanh tịnh cần chi
  • Đạo Phi Đạo Tri Kiến thanh tịnh cần chi
  • Hành Tri Kiến thanh tịnh cần chi
  • Tri Kiến thanh tịnh cần chi
  • Tuệ thanh tịnh cần chi
  • Giải thoát thanh tịnh cần chi

3.    Thế nào là chín Pháp cần được biến tri?

Chín Trú Xứ Của Loài Hữu Tình:

  • THÂN DỊ TƯỞNG DỊ: Thân hình khác nhau, tư tưởng khác nhau, như là Nhân Loại, Chư Thiên, và một số trong Địa Ngục.
  • THÂN DỊ TƯỞNG ĐỒNG: Thân hình khác nhau, nhưng tư tưởng giống nhau, như là các vị Phạm Chúng Thiên ở tầng Sơ Thiền.
  • THÂN ĐỒNG TƯỞNG DỊ: Thân hình giống nhau, nhưng tư tưởng khác nhau, như là các vị Quang Âm Thiên ở tầng Nhị Thiền.
  • THÂN ĐỒNG TƯỞNG ĐỒNG: Thân hình giống nhau và tư tưởng cũng giống nhau, như là các vị Biến Tịnh Thiên ở tầng Tam Thiền.
  • VÔ TƯỞNG VÔ THỌ: Chúng Phạm Thiên Vô Tửởng Sắc Giới.
  • KHÔNG VÔ BIÊN XỨ: Vượt khỏi hoàn toàn mọi sắc tưởng, đoạn trừ tất cả hữu đối tưởng, không còn suy tư đến bất luận một dị loại tưởng, như là các vị Không Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • THỨC VÔ BIÊN XỨ: Vượt khỏi hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, chỉ có tưởng “Thức là vô biên,” như là các vị Thức Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • VÔ SỞ HỮU XỨ: Vượt khỏi hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, chỉ có tưởng “Vô Sở Hữu” (lấy đề mục “không có chi cả” làm cảnh giới), như các vị Vô Sở Hữu Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ: Vượt khỏi hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chỉ có tưởng “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ,” như các vị Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.

4.    Thế nào là chín Pháp cần phải đoạn trừ?

Chín Ái Căn Pháp:

  • Do duyên Ái, Tầm cầu
  • Do duyên Tầm cầu, Đắc lợi
  • Do duyên Đắc lợi, Phân biệt
  • Do duyên Phân biệt, Tham dục
  • Do duyên Tham dục, Thủ trước
  • Do duyên Thủ trước, Chấp trì
  • Do duyên Chấp trì, Xan tham
  • Do duyên Xan tham, Hộ trì
  • Do duyên Hộ trì, Chấp trượng, chấp kiến, tranh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngữ, và các bất thiện pháp sanh khởi.

5.    Thế nào là chín Pháp chịu phần tai hại?

Chín Xung Đột (Hại Tâm) Sự:

  • “Nó đã làm hại tôi,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó đang làm hại tôi,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó sẽ làm hại tôi,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó đã làm hại người tôi thương, tôi mến,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó đang làm hại người tôi thương, tôi mến,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó sẽ làm hại người tôi thương, tôi mến,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó đang làm lợi cho người tôi không thương, không mến,” do đó, xung đột khởi lên.
  • “Nó sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến,” do đó, xung đột khởi lên.

6.   Thế nào là chín Pháp đưa đến thù thắng?

Chín Sự Điều Phục Xung Đột:

  • “Nó đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó đang làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó sẽ làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó đã làm hại người tôi thương, tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó đang làm hại người tôi thương, tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó sẽ làm hại người tôi thương, tôi mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó đã làm lợi người tôi không thương, không mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó đang làm lợi người tôi không thương, không mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.
  • “Nó sẽ làm lợi người tôi không thương, không mến. Có ích lợi gì mà nghĩ như thế,” nhờ vậy xung đột được điều phục.

7.    Thế nào là chín Pháp rất khó thể nhập?

Chín loại sai biệt:

  • Do duyên Giới sai biệt, Xúc sai biệt
  • Do duyên Xúc sai biệt, Thọ sai biệt
  • Do duyên Thọ sai biệt, Tưởng sai biệt
  • Do duyên Tưởng sai biệt, Tư duy sai biệt
  • Do duyên Tư duy sai biệt, Dục sai biệt
  • Do duyên Dục sai biệt sanh, Nhựt tình sai biệt
  • Do duyên Nhựt tình sai biệt, Tầm cầu sai biệt
  • Do duyên Tầm cầu sai biệt, Đắc lợi sai biệt
  • Do duyên Đắc lợi sai biệt sanh, Phân biệt sai biệt

8.    Thế nào là chín Pháp cần được sanh khởi?

Chín Tưởng:

  • Bất Tịnh Tưởng
  • Tử Vong Tưởng
  • Thực Yểm Ly Tưởng
  • Nhứt Thiết Thế Gian Bất Lạc Tưởng
  • Vô Thường Tưởng
  • Khổ Tưởng trên Vô Thường
  • Vô Ngã Tưởng trên Ngã
  • Đoạn Trừ Tưởng
  • Vô Tham Tưởng

9.    Thế nào là chín Pháp cần được thắng trí?

Chín Bậc Chứng Trú:

  • Vị tỳ khưu ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Sơ Thiền, hữu Tầm hữu Tứ do ly Dục
  • Vị tỳ khưu ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Nhị Thiền, vô Tầm vô Tứ.
  • Vị tỳ khưu ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Tam Thiền.
  • Vị tỳ khưu ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Tứ Thiền.
  • Vị tỳ khưu vượt khỏi hoàn toàn mọi sắc tưởng, đoạn trừ tất cả hữu đối tưởng, không còn suy tư đến bất luận một dị loại tưởng, chứng và trú Không Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • Vị tỳ khưu vượt khỏi hoàn toàn Không Vô Biên Xứ, chứng và trú Thức Vô Biên Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • Vị tỳ khưu vượt khỏi hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • Vị tỳ khưu vượt khỏi hoàn toàn Vô Sở Hữu Xứ, chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên ở cõi Vô Sắc Giới.
  • Vị tỳ khưu vượt khỏi hoàn toàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.

10.   Thế nào là chín Pháp cần được tác chứng?

Chín Bậc Diệt Trừ:

  • Thành tựu Sơ Thiền, các Dục Tưởng bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Nhị Thiền, các Tầm Tứ bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Tam Thiền, Hỷ bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Tứ Thiền, hơi thở vô bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Không Vô Biên Xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Thức Vô Biên Xứ, Không Vô Biên Tưởng bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Vô Sở Hữu Xứ, Thức Vô Biên Tưởng bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Vô Sở Hữu Tưởng bị đoạn diệt.
  • Thành tựu Diệt Thọ Tưởng Định, các Tưởng và Thọ bị đoạn diệt.
  • Như vậy, chín mươi Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Đại đức SÀRIPUTTA thuyết giảng về Mười Pháp

Mười Pháp có nhiều tác dụng. Mười Pháp cần phải tu tập. Mười Pháp cần phải biến tri. Mười Pháp cần phải đoạn trừ. Mười Pháp chịu phần  tai hại. Mười Pháp đưa đến thù thắng. Mười Pháp rất khó thể nhập.  Mười Pháp cần được sanh khởi. Mười Pháp cần được thắng tri. Mười Pháp cần được tác chứng.

1.    Thế nào là mười Pháp có nhiều tác dụng?

Mười Hộ Trì Nhân Pháp:

  • Vị tỳ khưu sống và thọ trì giới hạnh trang nghiêm, thu thúc và chế ngự theo giới bổn của PÀTIMOKKHA (Biệt Biệt Giải Thoát Giới), oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lời nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong Giới Pháp. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu được lắng nghe, gìn giữ và tích lũy những điều đã được nghe. Những Pháp thuộc Sơ Thiện, Trung Thiện, Hậu Thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, Phạm Hạnh tăng thượng, thanh tịnh hoàn mãn. Vị tỳ khưu nắm giữ, ghi nhớ, trùng tụng nhiều lần, chú tâm quán sát, khéo thành tựu nhờ Chánh Kiến. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu nào là Thiện Hữu, Thiện bạn lữ, là hảo bằng hữu, Thiện đạo hữu. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu thiện ngôn, nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu tinh cần, không biếng nhác, khéo léo, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức, làm tròn bổn phận đối với các vị đồng Phạm Hạnh hạnh niên lạp cao hơn. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu ưa thích Pháp, duyệt ý với Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Vô Tỷ Pháp, Vô Tỷ Luật. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu tự hoan hỷ, bằng lòng, và thích hợp với điều kiện về Tứ Vật Dụng. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu tinh cần nỗ lực đoạn trừ các Ác Pháp, thành tựu các Thiện Pháp, cương quyết, kiên trì cố gắng, nhẫn nại không lìa xa Thiện Pháp. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu có đầy đủ chánh niệm và tỉnh giác, luôn ghi nhớ những điều đã nói và đã làm từ trước. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.
  • Vị tỳ khưu có đầy đủ Trí Tuệ, Sanh Diệt Trí, hướng Tâm đến sự quyết trạch của các bậc Thánh, chân chánh diệt trừ mọi đau khổ. Chính Pháp như vậy là một hộ trì nhân.

2.    Thế nào là mười Pháp cần được tu tập?

Mười Biến Xứ:

  • Hành giả biết được về Địa  Biến Xứ:   trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Thủy Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Hỏa Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Phong Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Thanh Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Hoàng Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Xích Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Bạch Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Hư  Không  Biến Xứ:   trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
  • Hành giả biết được về Thức Biến Xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.

3.    Thế nào là mười Pháp cần phải biến tri?

Mười Xứ: Nhãn Xứ, Sắc Xứ, Nhĩ Xứ, Thinh Xứ, Tỷ Xứ, Khí Xứ, Thiệt Xứ, Vị Xứ, Thân Xứ, Xúc Xứ, Ý Xúc, Pháp Xứ.

4.    Thế nào là mười Pháp cần phải đoạn trừ?

Mười Tà Pháp: Tà Kiến, Tà Tư Duy, Tà Ngữ, Tà Nghiệp, Tà Mạng, Tà Tinh Tấn, Tà Niệm, Tà Định, Tà Trì, Tà Giải Thoát.

5.    Thế nào là mười Pháp chịu phần tai hại?

Mười Bất Thiện Nghiệp Đạo: Sát Sanh, Thâu Đạo, Tà Dâm, Vọng  Ngữ, Lưỡng Thiệt, Ác Ngữ, Ỷ Ngữ, Tham, Sân, Tà Kiến.

6.    Thế nào là mười Pháp đưa đến thù thắng?

Mười Thiện Nghiệp Đạo: Ly Sát Sanh, Ly Thâu Đạo, Ly Tà Dâm, Ly Vọng Ngữ, Ly Lưỡng Thiệt, Ly Ác Ngữ, Ly Ỷ Ngữ, Ly Tham, Ly Sân, Ly Tà Kiến.

7.    Thế nào là mười Pháp rất khó thể nhập?

Mười Thánh Cư: Đoạn trừ năm chi, đầy đủ sáu chi, một hộ, thực hiện bốn y, loại bỏ các giáo điều, đoạn tận các mong cầu, tâm tư không trệ phược, thân thể khinh an, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát.

Và thế nào là “Đoạn trừ năm chi?” 

  • Đoạn trừ Dục Vọng
  • Đoạn trừ Sân Hận
  • Đoạn trừ Hôn Thùy
  • Đoạn trừ Trạo Hối
  • Đoạn trừ Hoài Nghi

Và thế nào là “Đầy đủ sáu chi?” 

  • Mắt thấy Sắc, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.
  • Tai nghe Âm Thanh, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.
  • Mũi ngửi Mùi Hơi, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.
  • Lưỡi nếm Vị, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.
  • Thân cảm Xúc, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.
  • Ý hiểu biết Pháp, bất duyệt ý, vô ưu phiền, xả an trú, chánh niệm tỉnh giác.

Và thế nào là “Một Hộ?” Là thành tựu sự hộ trì về Niệm.

Và thế nào là “Thực Hiện Bốn Y?”

  • Vị tỳ khưu sau khi suy tư, Tầm Cầu một Pháp.
  • Vị tỳ khưu sau khi suy tư, Nhẫn Thọ một Pháp.
  • Vị tỳ khưu sau khi suy tư, Đoạn Trừ một Pháp.
  • Vị tỳ khưu sau khi suy tư, Tránh Xa một Pháp.

Và thế nào là “Loại bỏ các giáo điều?” Tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa Môn thông thường chủ trương, vị Tỳ Khưu đều loại bỏ, bỏ qua một bên, không chấp nhận, tẩn xuất, từ bỏ, phóng xả.

Và thế nào là “Đoạn tận các mong cầu?”

  • Vị tỳ khưu đoạn tận các mong cầu về Dục Vọng.
  • Vị tỳ khưu đoạn trừ các mong cầu về Hiện Hữu.
  • Vị tỳ khưu làm cho an tịnh các mong cầu về Phạm Hạnh.

Và thế nào là “Tâm tư không trệ phược?”

  • Vị tỳ khưu đoạn trừ các tâm tư dục vọng.
  • Vị tỳ khưu đoạn trừ các tâm tư sân hận.
  • Vị tỳ khưu đoạn trừ các tâm tư não hại.

Và thế nào là “Thân hành được khinh an?” Vị tỳ khưu đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các Hỷ Ưu từ trước, chứng và an trú Thiền Thứ Tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Và thế nào là “Tâm Thiện giải thoát?” Tâm giải thoát khỏi Tham, giải thoát khỏi Sân, giải thoát khỏi

Và thế nào là “Huệ Thiện giải thoát?”

  • Vị tỳ khưu đã đoạn trừ tận gốc rễ về Tâm Tham, như cây Ta La bị chặt đầu, không còn hiện hữu, không còn khả năng sanh khởi trong vị lai.
  • Vị tỳ khưu đã đoạn trừ tận gốc rễ về Tâm Sân, như cây Ta La bị chặt đầu, không còn hiện hữu, không còn khả năng sanh khởi trong vị
  • Vị tỳ khưu đã đoạn trừ tận gốc rễ về Tâm Si, như cây Ta La bị chặt đầu, không còn hiện hữu, không còn khả năng sanh khởi trong vị

8.    Thế nào là mười Pháp cần được sanh khởi?

Mười Tưởng:

  • Bất Tịnh Tưởng
  • Tử Vong Tưởng
  • Thực Yểm Ly Tưởng
  • Nhứt Thiết Thế Gian Bất Lạc Tưởng
  • Vô Thường Tưởng
  • Khổ Tưởng trên Vô Thường
  • Vô Ngã Tưởng trên Ngã
  • Đoạn Trừ Tưởng
  • Vô Tham Tưởng
  • Diệt Tưởng

9.    Thế nào là mười Pháp cần được thắng trí?

Mười đoạn tận sự:

  • Tà Kiến do Chánh Kiến đoạn tận. Do duyên Tà Kiến, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Kiến, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Tư Duy do Chánh Tư Duy đoạn tận. Do duyên Tà Tư Duy, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Tư Duy, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Ngữ do Chánh Ngữ đoạn tận. Do duyên Tà Ngữ, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Ngữ, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Nghiệp do Chánh Nghiệp đoạn tận. Do duyên Tà Nghiệp, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Nghiệp, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Mạng do Chánh Mạng đoạn tận. Do duyên Tà Mạng, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Mạng, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Tinh Tấn do Chánh Tinh Tấn đoạn tận. Do duyên Tà Tinh Tấn, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Tinh Tấn, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Niệm do Chánh Niệm đoạn tận. Do duyên Tà Niệm, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Niệm, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Định do Chánh Định đoạn tận. Do duyên Tà Định, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Định, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Trí do Chánh Trí đoạn tận. Do duyên Tà Trí, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Trí, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.
  • Tà Giải Thoát do Chánh Giải Thoát đoạn tận. Do duyên Tà Giải Thoát, các Ác Bất Thiện Pháp khởi sanh, các Pháp này được đoạn tận. Do duyên Chánh Giải Thoát, các Thiện Pháp được tăng cường, viên mãn.

10.    Thế nào là mười Pháp cần được tác chứng?

Mười Vô Học Pháp:

  • Vô Học Chánh Tri Kiến
  • Vô Học Chánh Tư Duy
  • Vô Học Chánh Ngữ
  • Vô Học Chánh Nghiệp
  • Vô Học Chánh Mạng
  • Vô Học Chánh Tinh Tấn
  • Vô Học Chánh Niệm
  • Vô Học Chánh Định
  • Vô Học Chánh Trí
  • Vô Học Chánh Giải Thoát

*Như vậy, một trăm Pháp này là chân thực, như thị, không phải không như thị, không thể sai khác, được đức Thế Tôn giác ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác.

Kết Luận:

Sau khi đại đức SÀRIPUTTA trùng tuyên tất cả những Pháp Số vừa xong, chư Tỳ Khưu Tăng hoan hỷ tín thọ lời dạy của đại đức SÀRIPUTTA.

*Các bài trích trong cuốn Giáo Án Trường Bộ Kinh của Tỳ Khưu PASÀDO Sán Nhiên. Nguồn Vietheravada.

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học

Giới thiệu

Nikaya Tâm Học là cuốn sổ tay internet cá nhân về Đức Phật, cuộc đời Đức Phật và những thứ liên quan đến cuộc đời của ngài. Sách chủ yếu là sưu tầm , sao chép các bài viết trên mạng , kinh điển Nikaya, A Hàm ... App Nikaya Tâm Học Android
Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

Tài liệu chia sẻ

  • Các bài kinh , sách được chia sẻ ở đây

Những cập nhật mới nhất

Urgent Notifications