Layout Options

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Thành Vương Xá (Rājagaha)
Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi non bao quanh do vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) trị vì vào thời đức Phật còn tại thế. Nhờ nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những rặng núi chạy dài nên thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên khoáng sản, quặng sắt cũng như mỏ đồng làm cho đất nước Ma Kiệt Đà càng thêm cường thịnh. Các nguồn văn hóa lớn được xuất xứ từ Ma Kiệt Đà, như ngôn ngữ Magadhi và lịch số…
Tìm kiếm nhanh

ID:5 Thành Vương Xá (Rājagaha)

student dp

ID:5

Class:4

Section:A

General Information

Tên gọi

:

Thành Vương Xá (Rājagaha)

Academic Year : 2020
Gender : Không xác định
Religion : Group
blood : B+

Other Information

Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi non bao quanh do vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) trị vì vào thời đức Phật còn tại thế. Nhờ nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những rặng núi chạy dài nên thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên khoáng sản, quặng sắt cũng như mỏ đồng làm cho đất nước Ma Kiệt Đà càng thêm cường thịnh. Các nguồn văn hóa lớn được xuất xứ từ Ma Kiệt Đà, như ngôn ngữ Magadhi và lịch số…

Thành Vương Xá (Rājagaha)

 

 

Cổng thành Vương Xá

 

image
Trên đỉnh Linh Thứu sơn

Linh Thứu Sơn tiếng Pāli là Gijjhakuta, nghĩa là ngọn núi kên kên (Vulture’s Peak), tức trên đỉnh núi có hình dạng của con Kên Kên là loài chim rất phổ biến ở Ấn Độ, gần thành Vương Xá (Rājagaha)

1. Giới thiệu khái quát về cổ thành Vương Xá (Rājagaha)

Thành Vương Xá (Rājagaha) là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), một kinh thành cổ xưa nhất Ấn Độ, rất trù phú, nguy nga nhưng lại hiểm trở vì núi non bao quanh do vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) trị vì vào thời đức Phật còn tại thế. Nhờ nằm trong thung lũng được bao quanh bởi những rặng núi chạy dài nên thiên nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên khoáng sản, quặng sắt cũng như mỏ đồng làm cho đất nước Ma Kiệt Đà càng thêm cường thịnh. Các nguồn văn hóa lớn được xuất xứ từ Ma Kiệt Đà, như ngôn ngữ Magadhi và lịch số… 

Ngày nay kinh thành này chỉ là một thị trấn nhỏ với tên gọi là Rajgir, cách thủ phủ Patna 70 km về phía Tây Nam. Xung quanh vùng có một vài bức tường thành bao bọc ở các rặng núi chính là những phế tích còn sót lại của một kinh thành cổ. Đời sống người dân nơi đây còn nhiều lạc hậu, phố xá nhà cửa đơn giản, lưa thưa, kinh tế không mấy gì khả quan so với nhiều vùng khác. Hơn 2500 năm về trước, tại nơi đây nhiều sự kiện trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu dấu vết cho đến ngày nay. Chính tại kinh thành này, trên đường thái tử Sĩ Đạt Ta tầm đạo đã xảy ra cuộc gặp gỡ giữa Ngài và đại vương Tần Bà Sa La. Được biết tâm nguyện cao cả của vị thái tử bộ tộc Thích Ca (Sakyā) thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), nhà vua vô cùng thán phục, xin nhường lại nửa giang san cho Sĩ Đạt Ta cai trị nhưng thái tử đã một mực từ chối. Trước khi chia tay, nhà vua cầu chúc cho thái tử Sĩ Đạt Ta sớm thành tựu đạo quả và trở về thành Vương Xá để độ ông. Do đó, kinh đô Vương Xá trở thành một trong những trung tâm truyền bá Phật giáo đầu tiên có sức ảnh hưởng rất lớn vào thời đức Phật. Những thánh tích trọng đại liên quan đến Phật giáo vẫn còn lưu tiếng tăm cho đến ngày nay như: tinh xá Trúc Lâm, động Saptaparni (nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất), núi Linh Thứu (nơi Phật diễn pháp Hội tam thừa quy nhất)…. Giờ đây chúng ta cùng tìm hiểu thêm một số dấu tích còn sót lại liên hệ đến các danh xưng lịch sử này.

 

2. Vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara) và tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana Vihara)

 

Khu tịnh xá Trúc Lâm

Có thể nói vai trò của vua Tần Bà Sa La rất lớn đối với việc truyền bá chánh pháp, là chỗ dựa vững chắc để làm nền tảng phát triển Phật giáo, khi một đạo Phật còn quá non trẻ so với những tôn giáo truyền thống đương thời của Ấn Độ. Nhưng làm cách nào thực hiện được điều đó để có thể đứng vững và làm cho mọi người tin tưởng hướng về, đó là điều trăn trở mà một vị giáo chủ vừa mới ra đời như đức Phật phải suy nghĩ và lo ngại!? Vì thế đức Phật không vội đi truyền bá chánh pháp ngay sau khi giác ngộ mà Ngài đã lưu lại tư duy quán sát bảy tuần lễ xung quanh cội Bồ Đề. Mặc dù đức Phật không thể hiện rõ về đường lối hay phương hướng truyền giáo của mình như một chiến lược, nhưng mọi biểu hiện của Ngài đều được cân nhắc kỹ càng có tính logic hợp lý trong mọi tình huống và trong mọi nơi khi Ngài dừng chân. Vì lẽ đó, mặc dù nhớ rất rõ lời hẹn ước với vua Tần Bà Sa La nhưng đức Phật không vội trở về thành Vương Xá để độ Ông bởi vì Ngài thừa hiểu tâm lý của những người đương quyền không dễ gì bị thuyết phục bởi những lời nói suông mà không có một cái gì để minh chứng. Do đó, việc quyết lòng hóa độ ba anh em Ca Diếp (Kassapa) đạo thờ lửa xứ Ưu Lầu Tần Loa (Uruvela) là một suy nghĩ đúng đắn nhất, có cơ sở tin cậy nhất đối với việc tiếp kiến đại vương nước Ma Kiệt Đà, một cường quốc nhất nhì thời bấy giờ. Bởi vì ba anh Ca Diếp là những người có uy tín lớn, có ảnh hưởng quần chúng rộng rãi trong thành, mà cả vua Tần Ba Sa La cũng để lòng kính nể đến các vị này. Tất cả điều kiện trên đã hội đủ nên cuộc gặp gỡ theo lời hẹn ước đã đem lại lòng tin sâu sắc và sự kính trọng tột độ của nhà vua dành cho đức Thế Tôn. Một nhà khổ hạnh hôm nào, nay trở thành một vị Phật, đầy đủ uy nghiêm cốt cách của bậc thầy trời người, lại thêm tiếp độ một ngàn môn đệ bao gồm ba anh em Ca Diếp chỉ trong thời gian ngắn ngủi thì việc đó ngoài sức tưởng tượng của nhà vua. Sau khi thân hành ra tận ngọ môn tiếp đón, vấn an đức Phật và chúng tăng, vua Tần Bà Sa La thỉnh Phật ngày hôm sau vào hoàng cung thọ trai và chính ông đã phục vụ cho Phật và chúng tăng, một vinh dự mà nhà vua chỉ dành cho đức Phật. Ngay bữa ngọ trai hôm đó, vua tuyên bố cúng dường ngự hoa viên Trúc Lâm (Veluvana), một khu rừng trúc xinh đẹp thoáng mát cho đức Phật làm nơi lưu trú tu hành. Tại khu rừng trúc này, một ngôi tinh xá được xây dựng, và nó cũng là ngôi tinh xá đầu tiên khởi nguồn cho lịch sử tự viện Phật giáo phát triển mãi đến sau này. Được sử ghi chép rằng, ngôi tinh xá rất là khang trang, rộng lớn, trong đó bao gồm nhiều phòng ốc, giảng đường và các tiện nghi sinh hoạt khác khảm đủ cả chục ngàn người. Tại ngôi tinh xá này, đức Phật đã trải qua mùa an cư thứ hai và nhiều mùa an cư khác nữa, và Ngài đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng được ghi lại trong Trung Bộ kinh như: Kinh Vương Tử, Đại Kinh Vacchagotta, Kinh Thiện Sanh Ưu Đà Di …

Ngày nay, khi dừng chân nơi ấy, chúng ta không còn thấy khu vườn trúc sum suê và ngôi tinh xá đồ sộ thuở nào như kinh điển mô tả. Trước mắt chúng ta chỉ thấy cảnh vật hoang sơ, thầm lặng trong một thị tứ bé nhỏ. Trước cổng ra vào có dựng một tấm bảng xác định vị trí ngôi tinh xá năm xưa, xung quanh có rào chắn um tùm cây tạp và cỏ dại. Bên trong chỉ còn vài khóm trúc khá tốt và xinh đẹp nhưng chắc được người sau trồng lại để tưởng niệm một danh xưng thơ mộng và nổi tiếng bởi hai chữ Trúc Lâm (rừng trúc), nhưng không đủ sức để phản ánh hết uy thế của một ngôi tinh xá trang hoàng và khu thượng uyển thời vàng son Phật giáo. Đi hết khu vườn, ngoài những khóm hoa được trồng dọc theo lối đi chúng ta không còn thấy một vết tích nào, cho dù bờ tường đổ nát rêu phong để có thể hình dung được tí gì liên quan đến nó. Trong khuôn viên, cách cổng ra vào khoảng 100 mét chúng ta thấy có một cái hồ vuông, xung quanh cẩn gạch vén khéo, nước trong hồ trong vắt và sạch sẽ, mặt hồ phẳng lặng in bóng những hàng cây tàng rộng mọc xung quanh, vài đàn cá trê chập chờn bơi lội dưới nước, tìm ăn những miếng mồi ngon từ khách tham quan và cư dân dạo mát quanh vùng. Hồ này có tên là hồ Kalandaka, được tương truyền rằng, đức Phật và chúng tăng thường tắm trong hồ này khi lưu trú tại tinh xá Trúc Lâm. Bên bờ hồ có một tượng Phật Bổn Sư do người Nhật tôn trí trên một bệ thờ trong tư thế thiền định, Ngài đang ngồi lặng lẽ giữa tiếng bước chân qua lại chầm chậm lưa thưa, giữa bốn mùa yên ả trầm buồn, buồn cho số kiếp chúng sanh thời Mạt không đủ phước duyên để chứng kiến thời hoàng kim chánh pháp.

Sau khoảng thời gian khiêm tốn ghi một vài hình ảnh kỷ niệm trong buổi chiều tà xế bóng, một vài hạt mưa muộn màng còn nhỏ giọt trên lối đi, hoàng hôn cũng dần dần buông màn khép lại cho một ngày tiếp tục trôi qua, một thao tác vạn kỷ, đoàn chúng tôi rời khỏi tinh xá Trúc Lâm, nơi đầy kỉ niệm trong trí tưởng tượng để trở về khách sạn nghỉ ngơi với bao niềm xao xuyến miên man.

 

3. Linh Thứu sơn (Gijjhakuta) Pháp Hội Tam Thừa

Linh Thứu Sơn tiếng Pāli là Gijjhakuta,  nghĩa là ngọn núi kên kên (Vulture’s Peak), tức trên đỉnh núi có hình dạng của con Kên Kên là loài chim rất phổ biến ở Ấn Độ, gần thành Vương Xá (Rājagaha). Từ trên đỉnh núi này, chúng ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành Vương Xá: những rặng núi chạy dài bao bọc xung quanh, các đồng ruộng mênh mông bát ngát, các làng mạc và những phố xá nằm rải rác quanh vùng. Tại Linh Thứu sơn này, nhiều bài kinh quan trọng đã được đức Phật tuyên thuyết khi Ngài còn tại thế. Theo truyền thuyết của Đại Thừa, tại núi này, đức Phật đã thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutta), là bộ kinh quan trọng của Đại Thừa Phật giáo, là kim chỉ nam của hành giả Pháp Hoa Tông. Cho nên vào đầu kinh chúng ta thấy câu xướng lễ: Nam Mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát, chính là nói đến pháp hội tam thừa quy nhất tại núi Linh Thứu, đức Phật khuyến hóa hàng thánh giả Tam Thừa (Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát), nên hướng về nhất thừa, tức là Phật thừa. Trong kinh này, đức Phật khẳng định Phật tính bình đẳng trong tất cả chúng sinh, không phân biệt nữ nam, quí tiện vì ai cũng có Phật tánh và sẽ thành Phật, qua lời tuyên ngôn của Phật: “Ta Là Phật Đã Thành, Chúng Sinh Là Phật Sẽ Thành”. Một điều đặc biệt không thể không nhắc đến, đó là hình thức chiếc y của các thầy tỳ kheo, là một bảo vật, là tấm bùa hộ mạng luôn mang bên mình không được xa rời dù chỉ một đêm. Sở sĩ y của các thầy tỳ kheo được gọi là áo ruộng phước (phước điền y) chính là lời dạy từ kim khẩu của đức Thế Tôn. Một hôm, đức Phật cùng với các môn đệ của mình đứng trên núi Linh Thứu ngắm nhìn cảnh sinh hoạt của nông dân và bao cánh đồng mênh mông dưới chân núi. Ngài thấy những thửa ruộng được chia thành từng luống cách ly với nhau, vừa để phân biệt quyền sở hữu của mỗi người đồng thời dễ canh tác, nhất là trong việc giữ nước. Từ hình ảnh này đức Phật liên tưởng đến các thầy tỳ kheo. Đức phật nghĩ rằng, các thầy tỳ kheo như những ruộng phước để chúng sanh gieo trồng hạt giống bồ đề; nếu các thầy tu tập giới đức thanh tịnh trang nghiêm, thì bản thân các thầy như mảnh ruộng tốt làm cho chúng sanh gieo giống được mùa. Bằng ngược lại, các thầy là mảnh đất cằn cỗi không đem lại nguồn sống tốt cho mọi người. Vì vậy, chiếc y các thầy tỳ kheo, dù là y bá nạp hay cắt may đều phải thành từng ô vuông nho nhỏ kết lại mà không được mặc vải liền. Ý nghĩa y phước điền được xuất xứ từ ngày ấy.

 

 

Trên đỉnh Linh Thứu sơn             Ảnh: Sưu tầm

Trước khi đến đỉnh núi Linh Thứu chúng ta đi qua những địa điểm được đánh dấu là vị trí quan trọng. Khoảng nửa đoạn đường lên đỉnh được xác nhận nơi Vua Tần Bà Sa La xuống kiệu để thân hành viếng thăm đức Phật. Qua đoạn đường dốc gần đến hương thất Phật ngự, chúng ta thấy hang động nhỏ, nằm bên tay phải lối đi, được cho là thạch thất của Ngài A Nan, vị thị giả suốt đời hầu cận trung thành bên đức Thế Tôn. Phía trước thạch thất này, có tảng đá lớn và nhiều mảnh vỡ được đánh dấu đó chính là tảng đá mà xưa kia Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), người anh em chú bác của Phật, lăn xuống để hại Phật, lúc Ngài đi ngang qua lối hẹp này. Nhờ oai thần của bậc đại giác, Đề Bà Đạt Đa đã không thực hiện thành công mưu đồ bất chính của mình. Phía trên thạch thất ngài A Nan khoảng 15 bậc thềm thang, gần hương thất của Phật là thạch thất của Ngài Xá Lợi Phất (Sāriputta), vị tôn giả trí tuệ bậc nhất trong hàng môn đệ của Phật. Xung quanh khu vực này còn nhiều thạch thất khác của chư thánh đệ tử Phật như Ngài Ma Ha Ca Diếp, Mục Kiền Liên ….Trên cùng là hương thất của Phật, gần mõm đá được cho là giống cái đầu con chim kên kên, nơi đức Phật thường ngự khi Ngài dừng chân tại Linh Thứu.  Đây là điểm cao nhất của ngọn núi này. Từ đây chúng ta có thể quan sát quanh khu vực này cho dù các cảnh vật rất xa.  Hai chữ Hương thất là từ xưng tán công đức, giới hạnh của Phật tỏa ngát như hương thơm bay khắp bốn phương, làm cho mọi người phải ngưỡng mộ một cách say sưa. Trong kinh Pháp Cú phẩm Hoa đức Phật dạy: “Trong các loài hoa, dù là hoa Chiên Đàn, hoa Đa Dà La hay hoa Mạc Lợi, tuy thơm thật nhưng không thể bay ngược gió. Chỉ có mùi hương của người tu đức hạnh tuy ngược gió vẫn bay khắp muôn phương” (PC – 54).

“Hương thơm hoa quý thua xa

Hương người đức hạnh chan hòa vượt trên

Xông lên mãi tận chư Thiên

Tỏa ra ngan ngát khắp miền trời cao”.

                                                (Tâm Minh)

Ngày hôm nay, hương thất này không còn nữa, chỉ được người đời sau xây dựng một nền gạch tưởng niệm khoảng 3 mét vuông để đánh dấu vị trí chỗ thường ngự của Phật hơn 2500 năm về trước. Các đoàn hành hương thường làm lễ và cầu nguyện trong phạm vi hương thất này. Các bản kinh thường được dùng để tụng đó là kinh Phổ Môn, được trích từ kinh Pháp Hoaphẩm Quan Thế Âm thứ 25.

Trong khoảnh khắc dừng chân ở tận đỉnh cao nơi hương thất của Phật, bốn bề gió lộng mênh mông, cảnh vật im lìm trong khoảng không bất tận, cho dù có người qua kẻ lại, nhưng ai cũng giữ chánh niệm, im lặng để cảm niệm hồng ân của đức Thế Tôn, lòng chúng tôi cảm thấy được an ủi đôi phần. Mặc dù không đủ duyên lành được sinh ra trong thời Phật còn tại thế để được dự phần trong Pháp Hội Linh Sơn, nhưng cũng may mắn tận mắt chứng kiến, tưởng niệm và đảnh lễ những nơi đức Phật từng tu tập và giảng kinh thuyết pháp năm xưa, dù là trên đỉnh núi cao hay trong các hang động liên quan đến cuộc đời Ngài. Bốn mươi lăm năm hoằng hóa độ sanh với đôi chân trần bằng xương bằng thịt, đức Phật đã vân du khắp bốn phương trong xứ Ấn để hóa độ chúng sanh, cho dù là kẻ hạ tiện như Ni Đề, người làm nghề gánh phân, là công việc bẩn thỉu nhất hay những người kỹ nữ như Ambapali… đều được sự che chở, thương yêu bình đẳng như các thánh đệ tử của Ngài. Một tấm gương sáng chói, một đức hạnh cao vời, chỉ có một và chỉ một lần trong lịch sử xuất hiện đấng cứu thế trong hiền kiếp này. Bằng chút tấc lòng son, trọn đời chúng con quyết noi theo con đường của Phật, dẫu không đạt đạo cũng nguyện từ đời này đến vạn kiếp sau ghi khắc mãi trong tim những lời vàng ngọc của Người, không cô phụ một đời gian nan, khổ cực của đấng cha lành đã tìm ra ánh đạo quang minh, tìm ra con đường giải thoát khổ đau cho vạn loại hữu tình mà không có một con đường nào khác, một tôn giáo hay một học thuyết nào ngoài lời dạy của Phật có thể giải quyết tận gốc thảm kịch muôn đời của trần thế, tức giải thoát luân hồi tử sinh.

Bên phải Linh Thứu sơn là núi Sonagiri, trên đỉnh có một cái tháp cao màu trắng được gọi là tháp Hòa Bình của Phật giáo Nhật Bản, do Hòa thượng Nichidatshu Fuji, thuộc tông Thiên Thai,  xây dựng với ước nguyện cầu cho thế giới hòa bình, chúng sanh an cư lạc nghiệp. Đây là một trong rất nhiều công trình được hòa thượng xây dựng trên đất Phật, kể từ sau sự kiện hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố lớn trên xứ sở hoa anh đào của Ngài: Hiroshima và Nagashaki vào tháng 8 năm 1945. Kiến trúc tất cả các tháp đều có kiểu dáng giống nhau, đều cấu trúc hình tròn và chóp nhọn ở đỉnh. Bốn mặt phân đều theo bốn hướng tôn trí 4 tượng phật màu vàng, dựa trên bốn sự kiện trọng đại: Đản sanh, Thành đạo, Chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn.

Các đoàn hành hương, thường hay nhầm lẫn giữa núi Linh Thứu và núi Sonagiri , nơi có tháp Hòa Bình Nhật Bản, nếu không được quí thầy cô thường dẫn đoàn hay những người hiểu biết về di tích hướng dẫn. Cũng là khu vực quanh núi Linh Thứu, nhưng đường lên Tháp Hòa Bình rất dễ vì đi bằng cáp điện treo (chairlift), còn đường lên núi Linh Thứu thì đi bằng bậc tam cấp. Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu kỹ càng hoặc tư vấn với những người đã từng đi một cách tường tận, chính xác để khỏi phải xảy ra những điều đáng tiếc như chúng tôi năm xưa hăm hở lên tận tháp Hòa Bình mà cho rằng mình đã đến đỉnh núi Linh Thứu, bởi vì mình chỉ biết trong kinh điển chớ không biết được địa điểm thực tế. Khi hiểu ra thì mọi việc đã trôi qua hơn hai năm rồi. Đúng là chuyện dở khóc dở cười!!!

 

4. Ngục khám vua Tần Bà Sa La (Bimbīsara)

 

Nền nhà tù, nơi A Xà Thế nhốt vua cha Bình Sa Vương       Ảnh: sưu tầm

 Trên quãng đường đi đến Linh Thứu sơn khoảng 2 km từ tinh xá Trúc Lâm có một bờ tường đá dày 2m,  nằm bên trái cách con đường chính chừng 30 m, hình chữ nhật, dài khoảng 100m, rộng độ 70m,  đó là nhà tù giam vua Tần Bà Sa La thuở xưa. Từ vị trí này, chúng ta nhìn thấy xa xa thấp thoáng tháp Hòa Bình trên đỉnh Sonagiri và chóp núi Linh Thứu, cách chừng 5 km bằng đường chim bay, khoảng 7 km đi đường lộ nhựa.

Sử chép rằng: vì còn quá trẻ, tính tình bồng bột nông nổi nên bị sự xúi giục sai trái của Đề Bà Đạt Đa, người dốc lòng hại Phật, thái tử A Xà Thế (Ajatasattu) dùng mọi thủ đoạn để hãm hại vua cha, tức vua Tần Bà Sa La, bằng cách bắt giam vào đại lao và dùng nhiều cực hình bức tử Ngài. Những ngày cuối đời trong ngục thất, đức vua hướng về núi Linh Thứu cầu khẩn đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp tu tập để thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ này. Vì ham mê danh vọng, quyền thế hư ảo, vì chứa đầy tham sân si trong lòng mà con người  gian trá lọc lừa, tìm cách hãm hại nhau để vun bồi cho dục vọng và ngã chấp, ngay cả như cha với con cũng không từ nan. Trần gian là bể thành sầu khổ. Sự có mặt của mọi con người trên cuộc đời chỉ nhằm giải quyết “ân oán giang hồ”, cứ thế mà trả vay, vay trả đến kiếp nào cho xong! Vì vậy, khi được đức Thế Tôn từ trên đỉnh Linh Thứu sơn phóng quang, xoa đầu và hiển hiện kim thân thuyết pháp, ông liền đắc quả A Na Hàm, rũ sạch mọi đau buồn và an nhiên đi vào cõi chết. Hoàng hậu Vi Đề Hi, vợ vua Tần Bà Sa La, cũng bị giam lỏng trong ngục thất này, nên bà cầu xin đức Phật chỉ dạy phương pháp tu thoát khỏi cõi ta bà ô trược. Cảm được lời cầu xin của Bà, đức Phật hiện thân thuyết pháp an ủi, giới thiệu thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà và phương pháp tu vãng sanh về cõi ấy. Điều này đã được ghi chép đầy đủ trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, một trong những bài kinh căn bản của hành giả Tịnh Độ Tông.

 

5. Hang Thất Diệp (Sattapanni), nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất

 

    Quang cảnh phía trước hang Thất Diệp              Ảnh: Tâm Bửu

Để được tham quan hang Thất Diệp (Sattapanni), mọi người trong đoàn phải nghỉ ngơi qua đêm chờ sáng hôm sau đủ sức đi bộ lên hàng mấy ngàn bậc tam cấp mới đến được hang Thất Diệp, một động đá trên đỉnh núi dung chứa chỗ ngồi cho 500 trăm vị A La Hán.

Hang Thất Diệp hay còn gọi động Kỳ Xà Quật thuộc ngọn núi Vebhara hay Vaibhara, là nơi được chọn để tổ chức cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất. Hang Thất Diệp này thuộc thành Vương Xá chỉ cách Linh Thứu sơn khoảng 10 km. Cuộc kết tập kinh điển này được diễn ra sau ba tháng đức Thế Tôn nhập Niết Bàn. Trưởng lão Đại Ca Diếp (MahaKassapa) được cử làm chủ tọa hội nghị gồm 500 vị đại A La Hán, nên còn gọi là Ngũ Bách Kết Tập. Nội dung của cuộc kết tập kinh điển lần này nhằm ôn lại lời dạy của đức Thế Tôn, Ngài Ưu Ba Ly (Upāli) trùng tuyên luật tạng, Ngài A Nan Đa trùng tuyên kinh tạng, chưa có đề cập đến tạng luận. Mọi chi phí trong suốt quá trình kết tập được sự bảo trợ trọn vẹn của vua A Xà Thế, đại vương nước Ma Kiệt Đà.

Tại hang Thất Diệp có khả năng chứa 500 vị thánh tăng hôm nào nay chỉ còn trong truyền thuyết, bởi vì qua thời gian hang động này đã bị lấp kín chỉ còn một lối đi vào sâu bên trong độ khoảng 10m. Bên ngoài hang động có khoảng không rộng rãi, thông gió, rất mát mẻ và thanh vắng. Từ nơi này, chúng ta có thể thấy vùng bình nguyên phía dưới cây cối bạt ngàn, nhà của phố xá và cả xe cộ qua lại trên con đường chính. Muốn vào bên trong chúng ta phải có đèn pin hoặc thắp nến mới có thể thấy đường lần theo lối mòn vì ngoài việc thiếu ánh sáng, lối đi rất là lởm chởm đá.

Cách hang động chính không xa khoảng 10m có một động đá không sâu nhưng khảm đủ làm nơi trú thân lý tưởng cho các vị tu hành. Hang động này được đánh dấu chỗ mà Ngài A Nan hành thiền suốt đêm trước ngày diễn ra cuộc kết tập kinh điển lần này. Sở dĩ A Nan không được vào bên trong vì Ngài chưa chứng đắc quả A La Hán, nên không đủ tư cách để tham dự hội nghị, cho dù được xem là vị đa văn đệ nhất, nhớ rõ toàn bộ lời dạy của đức Thế Tôn. Vì buồn cho mình mang tiếng đa văn nhưng lậu hoặc vẫn chưa dứt trừ, đồng thời không được có mặt trong kỳ kết tập này nếu chưa chứng quả A La Hán nên Ngài đã nỗ lực tu tập suốt một đêm cuối cùng trước khi trời sáng hội nghị bắt đầu khai mạc. Đêm lịch sử này cũng là đêm quyết định, tôn giả A Nan đã chứng đắc thánh quả, dứt trừ lậu hoặc và nghiễm nhiên trở thành một thành viên hợp lệ trong hội nghị và được đề cử vai trò quan trọng là người trùng tuyên toàn bộ kinh tạng, tức năm bộ Nikāya.

 6. Kê Túc sơn (Kukkutapadagiri), nơi nhập diệt của thánh Ca Diếp 

 

 

  Núi Kê Túc nhìn từ xa              Ảnh: Tâm Bửu

 

Kê Túc sơn là điểm lịch sử rất quan trọng, nơi nhập diệt của Ngài Ma Ha Ca Diếp, người được phó chúc giữ kim y của đức Phật, đợi đến khi Ngài Di Lặc ra đời để truyền lại. Mặc dù nhiều người biết đến mốc lịch sử này nhưng rất ít ai đến tận nơi để tham quan hay chiêm bái bởi nhiều lý do: một là, đường quá xa lại thêm nhiều ổ gà nên đi rất lâu; hai, chỉ là con đường độc lập không có liên quan đến các thánh tích khác; ba, vì nơi này không phải là điểm du lịch tham quan, cũng không có phố xá, làng mạc hay cảnh thiên nhiên đẹp, lại thêm leo núi cao mà không có bậc tam cấp. Ngoài ngọn núi cheo leo, khô khan, hiểm trở nơi đây chỉ có nhiều loại cây cỏ dại trên một vùng đất bỏ hoang, không có gì hấp dẫn cả. Cho nên chỉ có những tu sĩ hay Phật tử nhiều thiện chí lắm mới tìm đến nơi này.

Núi Kê Túc cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 75 km về hướng Đông Nam, đường đi rất khó khăn bởi nhiều ổ gà hay ổ voi thì đúng hơn vì nó rất to. Từ chân núi lên tới đỉnh chúng ta đi mất gần hai tiếng đồng hồ, do không có bậc tam cấp mà phải tìm lối mòn nơi các kẽ đá hay các rễ cây to bò dọc theo con đường. Nhờ Phật giáo Đài Loan đang xây dựng bảo tháp trên đỉnh Kê Túc tưởng niệm Ngài Ma Ha Ca Diếp, nên họ có tạo một đoạn tam cấp dang dở từ chân núi lên khoảng 100 mét. Được tương truyền rằng, trước khi nhập diệt, Ngài Ma Ha Ca Diếp cũng thường lui tới ngọn núi này để hành thiền định. Sau khi chu toàn lễ trà tỳ của Phật, lại thêm hoàn tất cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất, Ngài Ma Ha Ca Diếp đi vào núi Kê Túc nhập diệt tận định. Đến nơi Ngài dùng thần thông chẻ núi thành đôi mở lối đi, Ngài bước vào bên trong lòng núi và hai mảng đá lớn của một quả núi lần lần khép kín lại.

 

 

   Núi Kê Túc chẻ đôi        Ảnh: Tâm Bửu

Sở dĩ núi này có tên là Kê Túc vì từ xa chúng ta nhìn lên ngọn núi này, những mõm đá được nhô lên trông giống một con gà mái đang ấp trứng nên mọi người đặt tên là Kê Túc sơn (núi con gà). Trước khi lên tới đỉnh, chúng ta phải đi ngang qua một lối đi hẹp chỉ vừa đủ một người, hai bên là vách núi thẳng đứng, được cho là kẽ đá chẻ đôi do thần lực của Ngài Ca Diếp còn lưu dấu đến ngày nay. Khi đến đỉnh núi, chúng ta thấy có một hốc đá, trong đó có ngôi tháp nhỏ thờ tượng vị thánh đệ nhất đầu đà Ca Diếp. Xung quanh được bao bởi lớp kiếng dày, dưới chân rào lại cẩn thận nhằm tránh sự quấy phá cũng như bụi bậm. Bên ngoài hốc đá, Phật giáo Đài Loan cũng đang xây dựng một cái tháp lớn trên đỉnh núi này. Từ xa chúng ta thấy dường như ngôi tháp này xây dựng trên lưng của con gà đá to lớn này. Sau phút giây tham quan cảnh trí thiên nhiên, tận hưởng những cơn gió mát dịu và thanh khí trên ngọn núi, chúng tôi trở lại bảo tháp trong hốc đá, đối diện trước tượng Ngài Ca Diếp đảnh lễ, nhằm tưởng nhớ đến gương hạnh người xưa, một con người khiêm tốn, sống khổ hạnh, suốt đời chỉ mặc y phấn tảo. Đó là một trong những tấm gương đức hạnh sáng ngời mà ngàn đời sau người xuất gia nên trân trọng noi theo. Xúc động trước bậc tổ đức thánh hạnh cao ngời, tôi cảm tác một bài thơ theo thiển ý của mình để dâng tấc lòng thành lên Ngài:

Kê Túc nắng vàng vương áo con

Một đời sống đạo khắc lòng son

Kim y Phật tổ trao truyền mãi

Di Lặc hạ sanh vẫn hằng còn.

Dập đầu kính lạy Ngài Ca Diếp

Phấn tảo xiêm y giữ trọn đời

Phật sự vuông tròn hang Thất Diệp

Lời vàng tổ đức trải muôn nơi.

Ngàn năm trở lại đường xưa cũ

Dốc núi cheo leo hiện dáng thiền

Sông núi đổi dời tâm chẳng động

Con nguyền lưu giữ mối đạo thiêng”.

.

https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2023/07/21/hnh-huong-dat-phat-11-thnh-x-ve/

 

 

HÀNH HƯƠNG ĐẤT PHẬT.

(A PILGRIMAGE TO THE LAND OF BUDDHA).

11. THÀNH XÁ VỆ

(SHRAVASTI)

Nguyễn Xuân Quang.

clip_image002

Trước lều cỏ thơm an cư của Đức Phật tại Vườn Thệ Đà (Kỳ Viên) ở Xá Vệ Thành.

*

Tổng Quát.

clip_image004

Shravasti và các địa điểm Phật giáo khác.

Từ Lumbini, Nepal chúng tôi trở lại Ấn Độ hướng về Thành Xá Vệ (Shravasti). Thời gian đi mất khoảng năm tiếng rưỡi đồng hồ lái xe. Lần này trở lại qua biên giới trở về Ấn Độ khi qua cửa ải mới thật sự là qua… ‘khổ ải’.

Nepal đi dễ khó về. Tại biên giới phải chờ dài người ra. Mấy nước theo Mao-Tập làm khó dễ với người rời nước mình.

Người hướng dẫn phái đoàn hành hương Campuchia đã có kinh nghiệm đưa đoàn của họ tới từ bốn giờ sáng để được ở vị trí đầu tiên đứng chờ mở cửa lúc 8 giờ.

clip_image006

Sở di trú biên giới Nepal-Ấn Độ vào lúc sáng sớm (ảnh của tác giả).

Chỉ có quán bán cà phê, ăn sáng là đông vui. Các bà vui vẻ vì có thì giờ mua sắm giúp đỡ nền kinh tế Nepal. Các con chó què không thể rời được quê hương cũng có những giây phút hạnh phúc được tiếp xúc với các du khách thập phương.

clip_image008

Một người đẹp trong nhóm trong lúc chờ đợi chăm sóc, vỗ về một con chó què với lòng đầy trìu mến (ảnh của tác giả).

Mở cửa từ 8 giờ mà bây giờ 10 giờ hàng hành hương Campuchia đứng đầu vẫn dậm chân tại chỗ. Có một bà cụ đứng lâu quá té xỉu, tác giả phải nhào ra chăm sóc.

Mười giờ quan lớn mới ngồi xe sang tới. Mọi người bắt đầu thực sự làm việc…

Mãi gần 12 giờ mới qua được cửa khổ ải.

Tiện đường chúng tôi ghé thăm Ca-tì-la-vệ (Kapilvastu), nơi Đức Phật trải qua thời thơ ấu tại Cung điện Sudodhan (xem bài viết riêng số tới).

Đến tỉnh Xá Vệ Shravasti đã xế chiều. Shravasti (Phạn ngữ Śrāvastī; Pali Sāvatthī) là một tỉnh của phân khu Shravasti, tiểu bang Uttar Pradesh gần biên giới Nepal, vốn là kinh đô cũ của vương quốc Kosala (Kiều Tát La) của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit hay Pasenadi). Kosala trải dài từ đông sang tây khoảng 350 km, từ bắc xuống nam khoảng 270 km. Phía tây quá Lucklow, thủ đô của tiểu bang Uttar Pradesh ngày nay. Phía nam xuống tận sông Hằng.

Nơi đây Đức Phật trải qua gần như phần lớn thời kỳ sau khi thành đạo, qua 25 lần an cư mùa mưa

Vài Dòng Lich Sử

Thủ đô Shravasti là một trong sáu tỉnh thành lớn nhất ở cánh đồng Sông Hằng của nước Kosala. Nằm bên một dòng sông chẩy xuôi về phía đông nam rồi nhập vào Hằng Hà rất tiện việc lưu thông. Thêm nữa Xá Vệ còn ở ngã ba của ba con đường giao thương chính của Ấn Độ xưa nối các miền khác nhau của cận-lục địa Ấn Độ nên Kosala là một trong những quốc gia cường thịnh bậc nhất về chính trị, kinh tế lẫn quân sự vào thời Đức Phật còn tại thế. Dân số đông đúc, hiền lành và rất sung túc.

Vua Ba-tư-nặc nước Kosala là anh em với vua Tần-bà-sa Bimbisara, một cư sĩ thân thiết với Đức Phật của nước Ma-kiệt-đà Magadha nên Xá Vệ thành bang giao mật thiết với Vương Xá Thành, là hai trung tâm thương mại phồn thịnh.

Du Ký Hành Hương của Các Cao Tăng Trung Hoa.

Thầy Pháp Hiển có nói tới Shravasti và cho biết làm thế nào Thầy đến được Kapilavastu từ Shravasti.

Thầy Huyền Trang mô tả Shravasti trong tập 6 của Đường Tăng Du Ký. Thầy nói tới bốn nơi thầy ghé thăm, trong đó Xá Vệ lúc đó hoang vắng tiêu điều. Có hơn trăm tu viện nhiều chỗ đã đổ nát. Đây là các tu viện Phật giáo nguyên thủy. Thầy thấy hoàng cung của vua Ba Tư Nặc hoang phế, ở phía đông có tháp Đại Sảnh Dhama (Great Dhamma Hall), một tháp khác nữa và đền thờ Dì Kế Mẫu của Đức Phật. Cạnh đó theo thầy Huyền Trang là tháp lớn Angulimala (tôn giả Vòng Chuỗi Ngón Tay), không hiểu sao dịch Angulimala là Vô Não. Khoảng chừng năm lí (dậm) (khoảng 2 km vào thế kỷ thứ 7) về phía nam thành phố là Vườn Thệ Đà Jetavana (Jeta: Thệ Đà và vana: vườn, viên) hay Kỳ Viên với hai trụ cao 70 bột (ft) đứng trước một tu viện đổ nát. Một trụ có chạm khắc bánh xe và một trụ có con bò đực.

Thầy Huyền Trang tới thăm tất cả chỗ này và ghi lại cùng với chuyện truyền kỳ về Đức Phật tại Xá Vệ. Thầy cũng viếng thăm một Chùa Phật giáo cao 60 bộ có một tượng Phật ngồi ở Xá Vệ thành và một đền thờ thần (deva temple) cùng cỡ với chùa Phật. Cả hai đều còn trong tình trạng tốt.

Trên 60 lí về hướng bắc Thầy thấy một dẫy tháp xây bởi Hoàng đế Ashoka thờ ngài Ca Diếp (Kasyapa).

Khảo Cổ Học

Các phiến đá có khắc chữ và tượng Phật tìm thấy ở và gần tỉnh Xá Vệ cho thấy đây là địa điểm Phật giáo hoạt động mãnh liệt và thịnh vượng vào thời Đức Phật thế kỷ thứ 5 Trước Dương Lịch cho tới ít nhất thế kỷ thứ 12 Sau Dương Lịch. Về sau bị phá hủy và biến thành các gò đống vào thế kỷ 13 hay sau đó. Đây chính là thời điểm bị quân Hồi giáo tới và tạo nên các vương triều Delhi Sultanate. Các nhà khảo cổ Nhật khai quật giữa năm 1986 và 1996 cho thấy nơi đây tiếp tực xây dựng và bành trướng suốt thiên niên kỷ thứ nhất. Sau đó khám phá các tro than còn lại và đất bị cháy cho thấy phần lớn bị cháy rụi và tổn hại trong khi các phần khác bị hoang phế và bị soi mòn.

Vào cuối thế kỷ 19 di chỉ Xá Vệ được các nhà khảo cổ học Anh và Ấn Độ khám phá ra lại.

Ngày nay Xá Vệ chì còn là một tỉnh lẻ, một trung tâm du lịch và hành hương của các Phật tử khắp thế giới.

CÁC ĐIỂM QUAN TRỌNG ĐẶC BIỆT CỦA THÀNH XÁ VỆ.
Nhiều sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến Phật giáo đã diễn ra tại thành Xá Vệ.

Vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) và Phật giáo.

Vua Prasenajit là một cư sĩ của Đức Phật và là một vị bảo trợ đắc lực Phật giáo.

Vua Ba Tư Nặc giữ một vai trò quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo. Được sự trợ giúp của hoàng hậu Mạc Lị (Mallika), một Phật tử thuần thục và những lời chỉ dậy vàng ngọc của đức Phật về cách trị dân, vua Ba Tư Nặc trở thành một vị minh quân. Nước Kosala là một nước thái bình, thịnh trị, hùng mạnh.

+ Cấp Cô Độc (Anathapindada) và Vườn Thệ Đà hay Kỳ Viên (Jetavana).

Cấp Cô Độc (Anathapindada) hiểu theo nghĩa dân dã là Ông Cả Cô Độc, một trưởng lão không có con hay hiểu theo chữ nghĩa là Người Cấp Dưỡng Kẻ Cô Đơn. Ông giầu nứt đố đổ vách vì là chủ ngân hàng (banker). Ông có vợ người ở Vương Xá (Rajgir) nước Ma Kiệt Đà (Magadha). Ngày nọ tới Vương Xá ở nhà anh vợ, lúc đó đang nhộn nhịp soạn bữa tiệc cho Đức Phật ngày hôm sau. Sáng sớm khi đi dạo trong vườn Trúc Lâm bỗng nghe có người gọi tên cúng cơm của mình là Sudatta, tên này không hề một ai biết cả, ông giật mình. Sau đó ông mới biết đó là Đức Phật. Trong bữa ăn ngày hôm đó ông xin qui y và mời Ngài về Xá Vệ nghỉ trong mùa mưa. Đức Phật nhận lời.

Ông tìm được một khu vườn lý tưởng nhưng chủ của nó là Hoàng tử Jeta (Thệ Đà) con vua Ba Tư Nặc. Dĩ nhiên thái tử đời nào chịu bán ngôi vườn yêu quí của mình. Thái tử nói đùa là nếu ông có đủ tiền vàng phủ kín được quanh các gốc cây trong vườn thì hãy nghĩ tới việc mua vườn (có chỗ nói giá là 100.000 đồng vàng). Cấp Cô Độc làm đúng như lời thái tử nói. Thái tử không chịu bán viện lý do là mình nói đùa. Bị thua kiện theo luật phải bán. Mặt khác thái tử sau đó biết được Cấp Cô Độc mua vườn để dâng tặng Đức Phật. Vốn là con có cha mẹ đều là Phật tử ruột của Đức Phật và ông cũng kính yêu Phật nên cảm kích thấy Cấp Cô Độc hết lòng với Đức Phật và tăng đoàn nên thái tử thay vì bán đã tặng không cho Cấp Cô Độc để xây tu viện, Vì vậy tu viện được đặt tên theo tên thái tử là Vườn Thệ Đà (hay còn gọi là Kỳ Viên và vì có nhiều xoài nên có khi gọi là “rừng xoài”).

Trong 45 năm hoằng pháp, đức Phật đã trải qua 25 mùa mưa nơi thành Xá Vệ, riêng ở tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) này đức Phật đã an cư đến 19 lần.

+ Tu Viện Lộc Mẫu.

Cách tịnh xá Kỳ Viên khoảng 5 km có một vườn xoài là Publarama của tín nữ Tỳ Xá Khư (Visaka) cúng dường tăng đoàn làm tu viện Lộc Mẫu.

Nữ thí chủ Tỳ Xá Khư là một Phật tử giàu có đứng hàng thứ nhì ở thành Xá Vệ, chỉ sau Cấp Cô Độc. Bà thương yêu dân chúng như mẹ nai thương hươu nai con nên được gọi là Lộc Mẫu (Migāramāta).

Nai biểu tượng cho Mẹ Tổ vĩ đại thấy rõ qua Mẹ Tổ Âu Cơ Việt Nam. Mẹ Âu Cơ có thú biểu là con Nai Sao, là Mẹ Nai Sao của dân Việt Nam, ngày nay người Mường còn thờ phượng.

Bà dành một khu vườn xoài lớn xây dựng một tu viện nên được đặt tên là Tu Viện Lộc Mẫu.

Tại đây Đức Phật đã an cư trong 6 mùa mưa và thuyết giảng nhiều bài kinh quan trọng như kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Tiểu Mãn Nguyệt…  và nhiều đoạn kinh có đề cập đến bà. Bà sống trên 120 tuổi, qua đời sau Đức Phật khoảng 60 năm và nhập Niết bàn.

–Nguồn Cội Phật Giáo (Buddhist sources).
Như đã biết Đức Phật trải qua 25 mùa an cư tại thành Xá Vệ này, một trong những nơi được tôn kính nhất của Phật giáo. Nơi đây có thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nơi đây có vũ trụ trời đất thái hòa. Nơi đây có dòng Sông Hằng chẩy từ trời xuống, có Núi Vũ Trụ Himalaya, có ngã ba thông thương đi khắp các nơi của cận-bán đảo Ấn Độ. Nơi đây có vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu là cư sĩ Phật tử hết lòng phụng sự Phật giáo, có cư sĩ Cấp Cô Độc, một mạnh thường quân cùng với thái tử Jeta góp công đức vào tạo dựng Kỳ Viên, có nhân dân an hòa, thịnh vượng…

Vì thế tại đây Đức Phật giảng dậy, giáo huấn rất nhiều kinh gọi là kinh “Xá Vệ Quốc”. Theo Woodward, 871 kinh trong bốn bộ kinh (Nikayas) Phật là có gốc ở Xá Vệ Thành. Trong đó có hai bộ kinh cao cấp về mặt trí tuệ là Kinh Kim Cương và Kinh Hoa Nghiêm. “Hội Hoa Nghiêm” được mở ra 9 lần cho trời và người nghe. Hội thứ chín diễn ra tại Vườn Thệ Đa, do Như Lai và thiện hữu đều là hội chủ, giảng về Quả Pháp giới, gồm 21 quyển, 1 phẩm, là phẩm Nhập Pháp Giới.

Lưu Ý

Xin nói một chút về ngôn ngữ học để hiểu rõ về hai từ Hoa Nghiêm Avatamsaka (Sanskrit) hay còn gọi Mahāvaipulya Buddhāvataṃsaka (Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm). Hoa Nghiêm chữ hán là Hua-yan, chữ Nhật là Kegon. Hoa Nghiêm là một bộ kinh có ảnh hưởng nhất của Phật giáo ở Đông Á. Kinh Hoa Nghiêm dịch qua Anh ngữ là Flower Garland hay Wreath Sutra (Kinh Vòng Hoa), Flower Adornment Sutra (Kinh Trang Hoàng Hoa) hay Flower Ornament Scripture (Thánh Thư Trang Hoàng Hoa).

Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, được coi như là vua trong các kinh, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Đức Phật.

Tại sao gọi là Hoa Nghiêm? Dĩ nhiên có các cách giải nghĩa theo giáo lý cao siêu Phật giáo nhưng thường theo nghĩa bóng bẩy, hoa mỹ. Ví dụ như ‘Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới.

Hay ‘Hai ch Hoa Nghiêm dụ cho Phật ở nơi nhân địa mà vạn hạnh như hoa; dùng hoa này mà trang nghiêm quả địa, nên gọi là Hoa Nghiêm’ (Yếu Chí Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Duy Tắc Thiền Sư Lược Giảng
(https://www.chuatulam.net/a230/ye-u-chi-kinh-hoa-nghiem).

Tôi xin đi vào gốc nghĩa mộc mạc của ngôn ngữ học. Hiểu rõ được tên gọi theo gốc nghĩa là ta nắm vững được thành phần, khung sườn và ý nghĩa căn bản của kinh, rồi sau đó hãy mò mẫm cố gắng học hỏi tới ý nghĩa cao siêu của kinh sau.

Từ Avatamsaka (dịch là Hoa Nghiêm) có phần đầu: अवतंस avataMsaear ornament (trang sức ở tai), ear ring (vòng đeo tai, hoa tai), ring-shaped (hình vòng), garland (vòng hoa).

Giải tự Avatamsa có ava-, dưới và -tam-, tai, liên hệ với tai. Avatamsa: dưới tai tức chỉ hoa tai. Phạn ngữ cũng có từ uttaḿsa có nghĩa là “ear-ring” (hoa tai, bông tai). từ uttaḿsa có: ut- là trên, “ut” đẻ ra Anh ngữ “up”, Gothic và Anglosaxon ut, Old High German ûz có nghĩa là trên. Như vậy uttamsa có một nghĩa (vật) ‘trên tai’. Tóm lại tam– liên hệ với Anh ngữ temple, temporall: mang tai, với Chàm ngữ tang (tai), với Mã ngữ těmpeleng, a box on the ear”, một thứ hoa tai hình hộp và với Việt ngữ tầm là hoa tai.

Chúng ta có bài ca dao Tát Nước Đầu Đình rất được ưa chuộng và đã phổ thành nhạc được nhiều ca sĩ nổi tiếng hát.

Ta thường nghe hát:

Đêm qua tát nước đầu đình,

Để quên cái áo trên cành hoa sen.

Em có bắt được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

. . . . . .

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi Tầm em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo

…..

hay

Gái khôn con đã đến thì,

Để mẹ sắm sửa cho đi lấy chồng.

Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,

Dép cong, nón trẫm với dây thao điều,

Đôi ‘Tầm’ vàng rực con đeo…

Phần lớn thường nói, viết hay hát sai thành ‘đôi tằm’ hay ‘đôi trầm’ (xem thêm Đôi Tầm Em Đeo… ở Categories Tiếng Việt Huyền Diệu).

Như thế theo gốc nghĩa ta thấy ngay Kinh Hoa Nghiêm gồm có ba phần theo ba nghĩa chính:

1. Phần hiểu theo nghĩa là Vòng Hoa (garland) thì vòng hoa do cả trăm, ngàn đóa hoa với cỡ, mầu sắc và hương khác nhau kết lại, cho thấy từ Vòng Hoa Hoa Nghiêm có một nghĩa là ‘một số lớn’, ‘vô số’ hay ‘ một tập hợp bao gộp cả trăm nghìn kinh khác, mỗi kinh một thể, một cỡ. Điểm này tương xứng với tên Tây Tạng của kinh là A Multitude of Buddhas (Vô Vàn Phật) (In Buddhist Hybrid Sanskrit, the term avataṃsaka means “a great number,” “a multitude,” or “a collection.” This is matched by the Tibetan title of the sutra, which is A Multitude of Buddhas (sangs rgyas phal po che).

Các học giả hiện đại coi kinh Phật Hoa Nghiêm (Buddhāvataṃsaka) là một tập lục của nhiều kinh nhỏ hơn, nhiều bộ trong chúng lưu hành độc lập và sau đó kết lại cùng nhau thành bộ Buddhāvataṃsaka trưởng thành. Nhiều bộ kinh độc lập này còn sống sót trong các bản dịch Trung Hoa (Modern scholars consider the Buddhāvataṃsaka to be a compilation of numerous smaller sutras, many of which originally circulated independently and then were later brought together into the larger mature Buddhāvataṃsaka. Many of these independent Buddhāvataṃsaka sutras survive in Chinese translation).

Như thế hiểu theo nghĩa Vòng Hoa thì kinh Hoa Nghiêm là một kinh kết tập muôn nghìn đóa hoa kinh nhỏ độc lập với cỡ, thể dạng, mầu sắc, hương thơm khác nhau…

2. Phần hiểu theo nghĩa ‘hình vòng tròn’ (ring-shaped), theo hình dạng vòng tròn và vành tròn để kết hoa thì cho thấy kinh Hoa Nghiêm là kinh ‘Vòng Tròn”. Vòng tròn có một khuôn mặt là số không, là hư không, khởi nguyên của vũ trụ tạo sinh, của vũ trụ luận.

Vì vậy mà kinh Hoa Nghiêm còn gọi là Kinh Hư KhôngKinh Pháp Giới có khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào trong vũ trụ, trời đất mà không có. Nói một cách khác là Kinh Vũ Trụ. Kinh Phật Hoa Nghiêm mô tả một vũ trụ của thế giơi vô cùng tận trên một thế giới đầy vô lượng Phật (The Buddhāvataṃsaka describes a cosmos of infinite realms upon realms filled with an immeasurable number of Buddhas).

Cho nên khi Phật vừa mới thành đạo, Ngài thuyết giảng kinh Hoa Nghiêm trong hai mươi mốt ngày. Đức Phật giảng về huyền nghĩa “Nhất Tâm Chân Như, Pháp Giới Duyên Khởi”, tức thuyết minh về sự hình thành vũ trụ vạn vật, muôn sinh (Điều này cho thấy Đức Phật thông suốt một cách siêu việt về vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận của vũ trụ giáo, dịch học).

Phẩm dài nhất và quan trọng nhất của bộ kinh này [Chương 39 “Entry into the Realm of Reality” (skt. Gandhavyuha), dịch qua Anh ngữ 400 trang), về sau được Phật Thích Ca thuyết giảng tại thành Xá-vệ này, tả cảnh Thiện Tài đồng tử (Sudhana: Good Wealth) đi tìm đạo dưới sự hướng dẫn của Văn Thù Sư Lợi (mañjuśrī), một Đại Trí Bồ-tát…

Phẩm này trở thành giáo lý căn bản của Hoa Nghiêm Tông.

3. Phần hiểu theo nghĩa Hoa Tai (ear ring).

Hoa tai hay vòng hoa đeo tai là một thứ trang sức làm đẹp cho mặt người. Mặt người là ‘phần sáng’ của con người (các vật sáng đều gọi là mặt như mặt trời, mặt trăng, mặt gương, mặt người…). Mặt người là phần sáng, phần trí tuệ (sáng trí, sáng dạ), phần thấy của con người (người sáng là người thấy, người có mắt còn người không thấy, u mê là người mù, ‘vô minh’ ). Ca dao có câu “xem mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon”... Như vậy Hoa tai Hoa Nghiêm làm đẹp cho sự hiểu biết và sự thấy tức giác ngộ. Đây là lý do khi mới giác ngộ Đức Phật nói ngay kinh Hoa Nghiêm.

Một điểm nữa ta cũng thấy Đức Phật đeo vòng tai.

clip_image010

Chân dung Đức Phật do một đệ tử lén vẽ trong lúc ngài thuyết pháp, khi ngài 41 tuổi hiện để tại Bảo Tàng Viện London, Anh Quốc.

Vòng tai của Đức Phật giản dị chỉ là một vòng tròn. Đây chính là Vòng Hoa Tai Hoa Nghiêm, Vòng Giác Ngộ, Vòng Vũ Trụ (xin đừng hiểu theo nghĩa đàn ông đeo hoa tai ngày nay!).

Tóm lại hiểu theo nghĩa Hoa Tai làm đẹp cho mặt người, cho người thì kinh Hoa Nghiêm là một kinh làm đẹp cho loài người, cho trí tuệ, hiểu và thấy tức giác ngộ giúp con người thoát khỏi vô minh.

Nói một cách đơn giản thì kinh Hoa Nghiêm là kinh Vòng Tròn Hư Không, Vũ Trụ. Nếu vòng tròn có kết hoa thì là kinh Hoa Nghiêm Vòng Hoa kết hợp muôn vàn các đóa hoa kinh nhỏ lại. Nếu để vòng tròn làm vòng tai thi kinh Hoa Nghiêm có nghĩa như kinh Hoa Nghiêm Hư Không. Nếu trang sức thêm hoa hay châu báu thì kinh Hoa Nghiêm là kinh Hoa Tai…

Như thế khi hiểu nghĩa gốc của từ Hoa Nghiêm Avatamsaka ta thấy được khung sườn của kinh gồm có ba phần chính và ý nghĩa căn bản của kinh. Rồi từ nghĩa căn bản đó ta mới… triết lý ra (triết là chiết ra, cắt nhỏ ra, bẻ vụn ra, tán rộng ra như chiết cây, chiết cành, chiết suất…) và ta mới hiểu nổi một số cao tăng, các nhà tư tưởng Phật giáo uyên bác luận giải qua các từ ngữ bác học, văn hoa, huyền hoặc, mê hoặc và với ý nghĩa thâm u…

Theo nhà dịch thuật Thomas Cleary kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh vĩ đại, am tường và đẹp nhất của kinh sách Phật giáo.

….

-Phép Mầu Xá Vệ (“Shravasti miracles”).

Khi mới nghe nói tới Đức Phật làm phép mầu ta có cảm tưởng như là một chuyện nghịch lý vì như đã biết Đức Phật là một Phật Người (Nhân Phật), Ngài thường không nhận mình là thần thánh, là đấng tạo hóa… Vì vậy phải hiểu phép mầu của Đức Phật khác với phép mầu của thần linh của các tín ngưỡng, tôn giáo khác. Phép mầu trong Phật giáo phần lớn là kết quả của khả năng tâm linh phi thường có được qua thiền định siêu đẳng, hơn là qua sức mạnh siêu linh, siêu phàm. Theo các văn bản Phật giáo nhiều đệ tử Phật giáo cũng như các tu sĩ không Phật giáo và du già (yogis) khi đã đạt tới trạng thái thiền định cao siêu cũng có thể có vài người làm được một vài loại phép mầu. Tuy nhiên không phải là không có nguy hiểm nên Đức Phật nhiều lần đã ngăn cấm đệ tử không được làm phép mầu chỉ vì một lý do thách đố của tôn giáo khác hay để tỏ ra ta khác người thường hoặc để đạt được một lợi điểm gì tầm thường. Một lần ở bến đò nọ, Đức Phật và một tu sĩ ngoại đạo cùng chờ đò qua sông. Đò trễ vị tu sĩ nọ bực bội và tỏ ra cho mọi người biết là mình có thể qua sông không cần đò. Tu sĩ làm phép mầu đi trên mặt nước qua sông. Đức Phật khi qua sông gặp lại vị tu sĩ nhỏ nhẹ nói với ông ta rằng ông ta đã phung phí công tu tập mấy mươi năm để đi được trên mặt nước để thay thế đò thì giá trị phép mầu của ông đã dùng cũng chỉ bằng mấy đồng xu tiền đò. Đức Phật thường chỉ làm phép mầu phần lớn là để bảo vệ Phật giáo và có mục đích giáo huấn, giảng pháp. Đức Phật không cho phép các đệ tử mà tự mình nhận đứng ra thực hiện phép mầu tại thành Xá Vệ này vì coi đây là bổn phận của mình. Tại sao Đức Phật chọn nơi đây? Như đã nói ở trên Xá Vệ Thành là nơi có thiên thời, địa lợi, nhân hòa, nơi có thể lan truyền đi khắp đất Ấn Độ và là nơi Phật giáo còn bị các tôn giáo khác kình chống.

Vua Ba-tư-nặc trước khi gặp Đức Phật vốn theo Bà-la-môn giáo nên thành Xá Vệ cũng là nơi Ấn giáo và Chinh Phục giáo (Janism) phát triển huy hoàng. Một trong những lý do Chính là Đức Phật làm phép mầu để bảo vệ Phật giáo và hoằng Pháp.

Phép mầu nổi tiếng nhất ở Xá Vệ là Phép Mầu Song Đôi (Yamakapratiharya, twin miracle”).

Phép mầu này coi như là một phép mầu vĩ đại nhất của Phật Thích Ca.

Theo văn bản Phật giáo phép mầu này làm trong một cuộc tỉ thí với sáu thầy tu của các tôn giáo đối nghịch khác. Thoạt đầu Đức Phật làm một con đường châu báu giữa không trung rồi Ngài phóng lửa ra từ phần nửa người trên và nước từ nửa người dưới trước khi luân phiên tới các phần khác của cơ thể. Cuối cùng lan tỏa rộng ra khắp nơi rồi bao trùm cả trời đất, vũ trụ. Dông bão, sấm chớp nổi lên làm bay đi lều trại của phe đối nghịch khiến họ bỏ chậy. Trong khi đó ngài vẫn đứng trên con đường châu báu giảng Pháp cho những người đang đứng quan sát.

Một dị bản khác nói thêm rằng Đức Phật tự tạo ra nhiều hình bóng chính mình: đi, đứng, nằm ngồi tràn đầy không trung…

Những phép mầu của Đức Phật thấy ghi lại nhiều trong các văn bản, tháp Phật và các tác phẩm nghệ thuật.

clip_image011

Tượng Đức Phật làm Phép Mầu Song Đôi Lửa-Nước ở Shravasti, thế kỷ tứ 3 (Sau Dương Lịch), Gandhara (Đông Afghanistan ngày nay). Lửa bốc lên ở hai vai và nước chẩy ra ở dưới chân. Áo có vết nhăn như một dòng nước chẩy từ trên xuống.

Trong hệ thống hang động Phật giáo Ajanta có nhiều hang khắc tạc các cảnh Đức Phật thực hiện các phép mầu này: ví dụ ở Tiền phòng hang số 6 có cảnh Phép Mầu Sharavasti với Ngàn Tượng Phật ngồi trên tòa sen.

clip_image012

Tiền phòng: tường bên trái có cảnh Phép mầu Sharavasti (nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Tranh diễn tả cảnh Phật biến hóa Phép Mầu Shravasti thành Ngàn Vị Phật.

clip_image013

Tranh Ngàn Vị Phật (ảnh của tác giả).

Nên nhớ con số ngàn vạn là con số dịch học có một nghĩa là muôn ngàn, muôn vàn, vô số kể.

Theo tôi nhìn dưới lăng kính vũ trụ giáo cũng chí lý. Lửa và Nước là hai yếu tố mang tính nòng nọc (âm dương), hai nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học (Lửa mang tính dương nên ở phần dương phía nửa trên thân người và Nước âm nên ở phần âm phía nửa dưới thân người). Lửa vũ trụ Càn (cosmic fire) và nước vũ trụ Khôn (cosmic water) liên tác tạo ra sấm khai thiên lập địa gọi là tiếng nổ Big Bang tức tạo ra vũ trụ, càn khôn, tam thế, muôn ngàn thế giới, muôn sinh… Phật Thích Ca có cốt là Phật Vũ Trụ đội lốt Phật Vũ Trụ Nhật Quang Vairocana, nên làm phép song đôi lửa nước phát ra từ thân Ngài rồi tỏa rạng khắp vũ trụ, tạo ra sấm chớp dông tố là điều hữu lý, hiển nhiên. Nếu muốn ta có thể gọi phép mầu này theo vũ trụ giáo là Phép Mầu Vũ Trụ Tạo Sinh, Phép Mầu Vũ Trụ, Phép Mầu Tạo Hóa. Đây là lý do tại sao phép mầu Song Đôi Nước Lửa Âm Dương này được coi là phép mầu vĩ đại nhất của Đức Phật. Chỉ có Đức Phật có cốt vũ trụ mới làm được phép mẩu Song Đôi Lửa Nước Vũ Trụ này.

Lưu Ý

Có tác giả gọi phép mầu này là Phép Mầu Song Hành. Hai từ Song Hành (đi song song bên nhau) không hoàn chỉnh. Lửa Nước là hai yếu tố có tính nòng nọc (âm dương) trái ngược nhau, nếu đi song hành, không bao giờ gặp nhau thì không tạo ra được một thứ gì cả. Ở diện sinh tạo Lửa Nước phải gặp nhau để liên tác tạo ra vũ trụ muôn sinh như đã nói ở trên.

TỈNH XÁ VỆ NGÀY NAY.

Xá Vệ ngày nay chỉ còn lại những phế tích Phật giáo.

A. Tường Thành

clip_image015

Tường thành phố Xá Vệ cổ với cổng thành.

B. Vườn Thệ Đà.

Vườn Thệ Đà hay Kỳ Viên. Đây là địa điểm hành hương chính.

clip_image017

Bảng thông tin có bản đồ Vườn Thệ Đà (ảnh của tác giả).

Hãy dựa vào bản đồ này tìm đến hai địa điểm chính cần chiêm ngưỡng trong Vườn Thệ Đà này là chỗ căn lều cũ của Đức Phật và cây Bồ-đề Ananda.

clip_image019

Đường vào (ảnh của tác giả).

Căn Lều Cỏ Thơm của Đức Phật.

Phạn ngữ là Gandhakuti (Gandha-, mùi, hương thơm và kuti, lều, chòi): lều cỏ thơm nơi Đức Phật lưu trú. Có tác giả dịch là hương thất (nghe ‘bác học’ và sang trọng quá).

Tại đây Đức Phật an cư trong 19 mùa mưa. Đây là chỗ thiêng liêng nhất của Kỳ Viên. Khởi đầu chỉ là một chiếc lều cây cỏ thơm đơn sơ về sau xây dựng lại bằng gạch.

Ngày nay chỉ là phế tích với nền móng gạch.

clip_image021

Khu lều an cư của Đức Phật Gandhakuti hay Mulagandhakuti (ảnh của tác giả).

Theo khảo cổ học cho biết các viên gạch có tuổi vào thời triều đại Gupta (320-510).

Vào thế kỷ thứ 5 khi Thầy Pháp Hiển tới đây Thầy còn thấy một tháp gỗ bẩy tầng bị cháy, thay vào đó là một tháp gạch hai tầng. Vào thế kỷ thứ 7 khi Thầy Huyền Trang tới thì tháp gạch cũng đã bị đổ nát.

Ngày nay có một tháp nhỏ tạ ơn bằng gạch các Phật tử đã dán kín vàng lá.

clip_image023Tháp nhỏ tạ ơn trước lều an cư của Đức Phật (ảnh của tác giả).

clip_image025

Lối vào lều an cư của Đức Phật (ảnh của tác giả).

clip_image027

Trước cửa lều.

Lều cỏ thơm của Đức Phật giờ đây chỉ còn nền trống không. Nền trống không mở rộng ra cả càn khôn vũ trụ bao la mông lung khôn cùng.

+ Cây Bồ Đề Ananda

Đi sâu thêm vào trong là cây Bồ-đề Ananda.

clip_image029

Cây Bồ-đề Ananda.

Cây Bồ này do ngài Ananda đã chiết một cành từ cây Bồ đề tại Bồ Đề Đạo Tràng mang về và chính tay cư sĩ Cấp Cô Độc trồng. Đức Phật đã thường ngồi thiền định dưới gốc cây này khi ngài có mặt ở Kỳ Viên. Mục đích trồng cây Bồ-đề là để các đệ tử và tín hữu tưởng nhớ tới Đức Phật khi Ngài đi xa.

Ngày nay tới đây ngồi tĩnh tâm tôi cũng tưởng nhớ cố tìm lại bóng hình Đức Phật từ ngàn xưa. Hôm nay nghe tiếng lá reo trong gió thấy trong lòng mình an tịnh hơn, có lẽ ở đây không bị ô nhiễm bởi những lời cầu nguyện ồn ào quá.

Các Tu Viện và Bảo Tháp Khác.

clip_image031

Tháp số 5, nhóm hành hương Campuchia đang thiền định (ảnh của tác giả).

Phần trên tháp có khắc chữ cho biết tuổi từ thế kỷ thứ 8 tới thứ 10 Sau Dương Lịch.

clip_image033

Nhóm 8 tháp nhỏ (ảnh của tác giả).

Nhóm 8 tháp nhỏ làm vào những thời điểm khác nhau. Một tháp trong đó có ghi hàng chữ có tên Đức Phật cho biết làm vào thế kỷ thứ 5.

C. Tháp Cấp Cô Độc.

Cách tịnh xá Kỳ Viên không xa có hai tháp gần nhau khoảng 100m, đó là Tháp Cấp Cô Độc và ‘Vòng Chuỗi Ngón Tay’ (Angulilama).

Người quanh vùng thường gọi tháp Cấp Cô Độc với tên địa phương là tháp Kacchi Kuti bởi vì trên đỉnh tháp (kuti ngoài nghĩa chòi, lều còn có một nghĩa là chót, chóp, chỏm) có một điện thờ thần Kaccha do một vị thánh Ấn giáo xây.

clip_image035

Bảng thôn tin tháp Cấp Cô Độc (ảnh của tác giả).

clip_image037

Tháp Cấp Cô Độc (ảnh của tác giả).

clip_image039

Phần chính còn lại của tháp là bệ và cầu thang lên đỉnh tháp.

Tháp do Cấp Cô Độc (Sudatta tên cúng cơm, Anathapindika tên hiệu) xây cho Đức Phật khi ngài tới Xá Vệ. Tháp có di tích cấu trúc từ thế kỷ thứ 2 Sau Dương Lịch cho tới thế kỷ 12 Sau Dương Lịch.

D. Tháp Tôn Giả ‘Vòng Chuỗi Ngón Tay (Angulimala).

Ngay bên cạnh Tháp Cấp Cô Độc là Tháp tôn giả Vòng Chuỗi Ngón Tay (Angulimala: có Anguli- có gốc aGgulI ngón tay và mala: vòng chuỗi). Không hiểu sao lại dịch là Vô Não.

clip_image041

(ảnh của tác giả).

clip_image043

Mặt bên cho thấy tháp có nhiều tầng (ảnh của tác giả).

Kacchi Kuti có tuổi từ thời Kushana và được tái thiết nhiều lần. Dựa vào du ký của Thầy Pháp Hiển và Huyền Trang có nhóm khảo cổ học cho rằng tháp này liên kết với Tháp Cấp Cô Độc Sudatta (Anathpindika).

clip_image045

Đường hầm (ảnh của tác giả).

Tháp có nhiều đường hầm nối liền với cổng thành phố gọi là cổng Naushahra và Kandbhari.

Theo truyền thuyết tôn giả ‘Vòng Chuỗi Ngón Tay’ vốn là một tên giết người. Khi còn nhỏ là một chàng trai trẻ ngoan hiền, không làm hại ai nên được đặt tên là Ahimsāka (‘the harmless one’), Người Vô Hại (A: không, -him- là hãm, hại) rất thông minh, học rất giỏi, được thầy thương như con cưng.

Vì vậy bị bạn bè ganh ghét vu cho ông là dan díu với vợ thầy (một dị bản khác nói người vợ thầy mê Ahimsaka nhưng bị từ chối nên mách với chồng là Ahimsaka buông lơi quyến rũ mình). Thầy trả thù bắt Ahimsaka muốn được thành đạt phải đi tìm cho thầy một món quà tốt nghiệp (có dị bản nói là để trả học phí) là một sâu chuỗi một ngàn ngón tay (người hướng dẫn viên nói là 108 ngón). Ahimsaka muốn thành đạt nên trở thành một tên sát nhân khét tiếng đến độ vua Ba Tư Nặc phải lên án tử hình và cho lùng bắt.

Người mẹ nghe tin liền vào rừng báo tin cho con biết để tìm cách cứu con. Lúc này, “Sâu Chuỗi Ngón Tay” đã giết người lấy được 999 ngón và cố tìm giết một người nữa để có đủ số lượng 1.000 ngón tay. Biết mẹ tới, hắn nẩy ra ý định giết mẹ. Đức Phật qua quán chiếu (meditative vision) thấy rõ sự việc, bèn đến khu rừng kia để ngăn chận lại. Khi thấy Đức Phật đi tới tên sát nhân bỗng nhiên bị đổi ý thành muốn giết Đức Phật thay thế mẹ mình. Hắn cầm dao tiến nhanh về phía Đức Phật. Ngài vẫn ung dung, thong thả bước đi. Nhưng lạ thay hắn không làm sao bắt kịp tới sát được bên Ngài. Cuối cùng bực tức hắn hét lớn gọi: ‘tên kia hãy dừng lại’. Đức Phật ôn tồn trả lời: “Ta đã dừng lại rồi chỉ có nhà ngươi là còn tiếp tục”. Hắn không hiếu ý Ngài: “ Người vẫn đi sao bảo là ngừng?” Đức Phật nhỏ nhẹ giảng giải ‘Ta đã ngừng làm hại người, còn nhà ngươi vẫn tiếp tục giết người. Hãy ngưng làm hại người như tên Người Vô Hại của ngươi’. Hắn bỗng hiểu ra, rồi quỳ xuống xin qui y với Đức Phật. Ngài nhận hắn làm sa môn.

Có một văn bản giải thích là Đức Phật dùng lực của mình làm cho đất co lại và dãn ra để giữ khoảng cách với Angulimala (One text states the Buddha used his powers to contract and expand the earth, thus keeping a distance with Aṅgulimāla).

Khi đức vua và quân lính được báo là Angulimala đang ở trong tịnh xá của Đức Phật, tính tới bắt. Vua hiểu ra là Đức Phật đã hoán cải được tên sát nhân nên đồng ý không bắt nữa để hắn tu hành. Angulilama từ đó cố công tu tập và về sau thành một A-la-hán.

Lưu Ý

Cũng nên biết A-la-hán (Phạn ngữ arhat, Pali arahat, Tạng ngữ dgra com pa: dịch nghĩa là sát tặc, là giết hết giặc phiền não, người đã vô sinh, đoạn diệt sinh tử, đạt Niết Bàn, A-la-hán là một bậc thánh nhân. Trong Phật giáo nguyên thủy A-la-hán là hiện thân của giác ngộ, giải thoát cho bản thân mình, khác với Bồ-tát trong Phật giáo Đại thừa giải thoát cho mọi chúng sinh.

Tuy nhiên nghiệp quả trước kia cũng vẫn phải trả theo luật nhân quả. Làm nghiệp ác, nghiệp xấu, có nợ vũ trụ, nợ trời đất, nợ thế gian, nợ đời, nợ người dù có thành chánh quả cũng vẫn phải trả lại cho tất cả cho tới khi hết nợ. Vì thế nhiều lần đi khất thực bị những người có người thân bị giết trước kia trả thù, hành hung có khi bị vỡ đầu, sứt tai, mình mẩy bầm dập, quần áo rách tả tơi, bình bát bị mất… nhưng tôn giả vẫn nhẫn nhục, giữ tâm thái an nhiên của một bậc giác ngộ.

Toàn bộ câu chuyện này được ghi lại trong kinh Angulimala, số 86 thuộc Trung Bộ kinh.

Sau khi tôn giả chết mọi người tranh luận là Angulimala sẽ đi về đâu? Lúc đó Đức Phật nói rằng tôn giả có thể được giải thoát và đạt Niết Bàn sau khi trả hết nợ nhân quả. Mọi người kinh ngạc. Đức Phật nói ngay cả một người sau khi đã phạm những điều ác cũng vẫn có thể sửa đổi, tu tỉnh lại tốt lành hơn và đạt tới giác ngộ.

E. Các Kiến Trúc Thờ Phượng ở Quanh Xá Vệ Thành.

Cũng giống như ở các phế tích Phật khác có nhiều tu viện, chùa của nhiều quốc gia khác xây dựng tại thành Xá Vệ như Thái Lan, Myanmar, Tây Tạng, Tích Lan, Nam Hàn, Đài Loan…

Tóm lại

Xá Vệ Thành có một điểm quan trọng nhất, đây là nơi cuội nguồn Phật giáo, nơi Đức Phật đã trải qua 25 mùa an cư, nơi đây Ngài giảng dậy, giáo huấn rất nhiều kinh gọi là kinh “Xá Vệ Quốc”. Theo Woodward, 871 kinh trong bốn bộ kinh (Nikayas) Phật là có gốc ở Xá Vệ Thành. Trong đó có hai bộ kinh cao cấp về mặt trí tuệ là Kinh Kim Cương và Kinh Hoa Nghiêm. “Hội Hoa Nghiêm” thứ chín diễn ra tại Vườn Thệ Đà, do Như Lai và thiện hữu đều là hội chủ. Nơi đây ngài cũng thực hiện nhiều phép mầu và thu thập nhiều cư sĩ, đệ tử trong đó có nhiều người được nhắc tới là vua Ba-tư-nặc, Cấp Cô Độc, tín nữ Mẹ Nai Tỳ Xá Khư (Visaka), tôn giả “Sâu Chuỗi Ngón Tay Angulimala”…

(còn nữa).

Số tới Ca-tì-la-vệ.


Các sự kiện liên quan đến Đức Phật

Các nhân vật ở đây

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học

Giới thiệu

Nikaya Tâm Học là cuốn sổ tay internet cá nhân về Đức Phật, cuộc đời Đức Phật và những thứ liên quan đến cuộc đời của ngài. Sách chủ yếu là sưu tầm , sao chép các bài viết trên mạng , kinh điển Nikaya, A Hàm ... App Nikaya Tâm Học Android
Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

Tài liệu chia sẻ

  • Các bài kinh , sách được chia sẻ ở đây

Những cập nhật mới nhất

Urgent Notifications