Mục lục nhân vật
Tổ Ấn - Mật Hoằng (祖印 - 密弘,1735 - 1835), là thiền sư Việt Nam, Lâm Tế tông 36
Thiền sư Mật Hoằng là người họ Nguyễn, không rõ tên thật, húy Tổ Ấn, sinh năm Ất Mão (1735) ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Năm 1749, lúc mới 15 tuổi (tuổi ta), Mật Hoằng từ Bình Định vào tu hành ở chùa Đại Giác, thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là Cù lao Phố, thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Sau đó, Mật Hoằng đến thọ giới c...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #509
- Khởi tạo
- 21/03/2023
- Cập nhật gần nhất
- 19/10/2026 01:16
- Lượt xem
- 530
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Thiền sư Mật Hoằng là người họ Nguyễn, không rõ tên thật, húy Tổ Ấn, sinh năm Ất Mão (1735) ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Năm 1749, lúc mới 15 tuổi (tuổi ta), Mật Hoằng từ Bình Định vào tu hành ở chùa Đại Giác, thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là Cù lao Phố, thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Sau đó, Mật Hoằng đến thọ giới cụ túc [1] với Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc ở chùa Từ Ân. Năm Quý Tỵ (1773),uysư Mật Hoằng được cử làm Trụ trì chùa Đại Giác. Theo sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (tập 2), thì trong thời gian chúa Nguyễn Phúc Ánh trung hưng ở Gia Định, và bắt đầu tiến ra miền Trung để tấn công Tây Sơn, chúa Nguyễn cùng hoàng gia và triều thần có thời gian tạm ngụ ở chùa Đại Giác của Sư[2]. Vì ơn ấy, nên sau khi lên ngôi (1802) lấy hiệu là Gia Long, nhà vua đã sai người đến trùng tu chùa Đại Giác.
Tổ Ấn Mật Hoằng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Mật Hoằng 密弘 |
|
|---|---|
| Pháp húy | Tổ Ấn 祖印 |
| Hoạt động tôn giáo | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Trường phái | Đại thừa |
| Tông phái | Thiền tông |
| Lưu phái | Lâm Tế tông |
| Tu tập tại | Chùa Đại Giác |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | |
| Ngày sinh | 1735 |
| Nơi sinh | huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định |
| Mất | |
| Ngày mất | 1835 |
| Nơi mất | Chùa Quốc Ân, Huế |
Tổ Ấn - Mật Hoằng (祖印 - 密弘, gọi tắt là Mật Hoằng, 1735 - 1835), là thiền sư Việt Nam, thuộc Lâm Tế tông, đời thứ 36.
Tiểu sử và đạo nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]
Thiền sư Mật Hoằng là người họ Nguyễn, không rõ tên thật, húy Tổ Ấn, sinh năm Ất Mão (1735) ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Năm 1749, lúc mới 15 tuổi (tuổi ta), Mật Hoằng từ Bình Định vào tu hành ở chùa Đại Giác, thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là Cù lao Phố, thuộc xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Sau đó, Mật Hoằng đến thọ giới cụ túc [1] với Thiền sư Phật Ý-Linh Nhạc ở chùa Từ Ân.
Năm Quý Tỵ (1773),uysư Mật Hoằng được cử làm Trụ trì chùa Đại Giác. Theo sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (tập 2), thì trong thời gian chúa Nguyễn Phúc Ánh trung hưng ở Gia Định, và bắt đầu tiến ra miền Trung để tấn công Tây Sơn, chúa Nguyễn cùng hoàng gia và triều thần có thời gian tạm ngụ ở chùa Đại Giác của Sư[2]. Vì ơn ấy, nên sau khi lên ngôi (1802) lấy hiệu là Gia Long, nhà vua đã sai người đến trùng tu chùa Đại Giác.
Năm Gia Long thứ 13 (1814)[3], vua cho mời Thiền sư Mật Hoằng ra làm Tăng cang chùa Thiên Mụ ở Huế, đồng thời thỉnh vào nội cung thuyết pháp cho Hoàng gia.
Năm 1817, vua lại cử Tăng cang Mật Hoằng đến làm trụ trì chùa Quốc Ân ở Huế. Đến đây, Sư bèn cho trùng tu lại chùa, vì đã bị hư hại nhiều khi quân Tây Sơn đánh lấy Phú Xuân.
Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Tăng cang Mật Hoằng lại lo trùng tu chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định.
Ngày mùng 1 tháng 10 năm Ất Mùi (1835), Tăng cang Mật Hoằng viên tịch tại chùa Quốc Ân (Huế) thọ 101 tuổi.
Sau đó, đồ chúng lập tháp thờ ở bên cạnh chùa. Bia tháp có ghi: "Sắc tứ Thiên Mụ tự, Trụ trì Mật Hoằng Đại lão Hòa thượng chi tháp". Long vị ở chùa Quốc Ân ghi: "Sắc tứ Thiên Mụ Trụ trì, trùng kiến Quốc Ân, Lâm Tế chánh tông, tam thập lục thế, húy Tổ Ấn, thượng Mật hạ Hoằng, Lão Hòa thượng". Chùa Long Hưng ở tỉnh Bình Dương cũng có thờ long vị của Hòa thượng Mật Hoằng.
Thiền sư Mật Hoằng có một số đệ tử nổi danh. Trong số đó có Thiền sư Tiên Huệ Tịnh Nhãn (sau được vua Nguyễn cử làm Tăng cang, Trụ trì chùa Thiên Mụ), Thiền sư Tánh Thiên Nhất Định (sau cũng được vua Minh Mạng phong chức Tăng cang chùa Giác Hoàng.
Tài liệu liên quan[sửa | sửa mã nguồn]
Sách Đại Nam nhất thống chí, phần "Thừa Thiên phủ", viết về Thiền sư Mật Hoằng như sau:
- Nguyễn Mật Hoằng, người huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, 15 tuổi xuất gia, lưu ngụ Gia Định đầu thiền ở chùa Đại Giác, tu trì giới hạnh...Năm Quý Tỵ (1773), Hoằng mới cắt tóc làm thầy. Năm Gia Long thứ mười ba (Giáp Tuất, 1814), vua triệu Hoằng về kinh cấp cho chức Tăng cang Trụ trì chùa Thiên Mụ, quán thống tăng chúng. Mùa đông năm Minh Mạng thứ mười sáu (1835), Hoằng tịch, thọ 101 tuổi.
Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
- Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1992.
- Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (tập 2). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.
- Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 2). Nhà xuất bản Văn học, 1992.
Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ Xem nghĩa "thọ giới cụ túc" ở đây: [1].
- ^ Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (tập 2, Nhà xuất bản TP.HCM, 1995, tr. 25).
- ^ Ghi theo Đại Nam nhất thống chí (phần "Thừa Thiên phủ"). Thiền sư Việt Nam (tr. 479) và Việt Nam Phật giáo sử luận (của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, quyển 2, 1992, tr. 306) đều ghi là năm 1815.
(1735 - 1835)-(Đời pháp thứ 36, tông Lâm Tế)
Thiền sư Mật Hoằng, húy Tổ Ấn, họ Nguyễn, sanh năm Ất Mão (1735), quê ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Năm 1749, lúc mới 15 tuổi, Mật Hoằng từ Bình Định vào Gia Định, tu hành ở chùa Đại Giác, tại Đại Phố Đồng Nai, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên (nay là cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai). Sau đó, Mật Hoằng đến thọ giới cụ túc với Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc ở chùa Từ Ân, làng Tân Khai, huyện Tân Bình, dinh Phiên Trấn (nay thuộc quận 3, thành phố Hồ Chí Minh). Tu trì giới hạnh tinh nghiêm.
Năm Quí Tỵ (1773), Thiền sư Mật Hoằng được cử làm Trụ trì chùa Đại Giác (Biên Hòa, Đồng Nai).
Trong thời gian chống với nhà Tây Sơn ở phủ Gia Định (năm 1778 đến năm 1801) Nguyễn Vương Nguyễn Phước Ánh nhiều lần phải lánh nạn ở các chùa miền Nam như chùa Kim Cang, Bửu Phong (Đồng Nai), Tập Phước (Gia Định), Long Nguyên (hay Linh Thứu, Mỹ Tho)... Nguyễn Vương cũng có thời gian tạm trú ở chùa Đại Giác (Biên Hòa), Từ Ân và Khải Tường (Gia Định). Trong thời gian đó, con gái thứ ba của Nguyễn Vương là Ngọc Anh, lánh nạn ở chùa Đại Giác (Biên Hòa), một thời gian sau, công chúa Ngọc Anh xin xuất gia thọ giới với Thiền sư Mật Hoằng, hiện chúng ta không biết rõ hành trạng của công chúa, trong tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huê (B.A.V.H.) năm 1915, có viết như sau: Công chúa Ngọc Anh, chị của Vua (Minh Mạng), còn trẻ và tiết liệt, khi tị nạn nhà Tây Sơn đã đến tu ở chùa Đại Giác, giữ cuộc sống trầm tư mặc tưởng, hành đạo một cách sùng mộ.
Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Vương lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long. Vua nhớ ơn sự giúp đỡ của các chùa trên, nên sắc tứ và ban thưởng cho các chùa. Riêng phần chùa Đại Giác (Biên Hòa), vua ra lịnh cho quan trấn ở địa phương phải lo trùng tu cho chùa, cho Tượng binh đem voi đến dậm nền chùa. Vì vậy, sau này, chùa Đại Giác còn được gọi là chùa Tượng. Chùa được xây dựng to lớn hơn, có lầu chuông và lầu trống. Vua lại cho tạo tượng Phật A-di- đà cao đến 2m25, nên chùa cũng được gọi là chùa Phật lớn. Vua sắc phong chức Hòa thượng và ban y bát cho bổn sư của Thiền sư Mật Hoằng là Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (chùa Từ Ân).
Năm Gia Long thứ mười bốn (năm 1815) vua xuống chiếu triệu Thiền sư Mật Hoằng về kinh đô Huế, phong chức Tăng cang chùa Thiên Mụ, đồng thời thỉnh vào nội cung thuyết pháp cho Hoàng gia.
Năm 1817, vua lại cử Tăng cang Mật Hoằng trụ trì chùa Quốc Ân (chùa do Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch lập). Trong thời gian hoằng hóa ở chùa này, Tăng cang Mật Hoằng cho xây dựng lại chùa Quốc Ân (bị phá sập trong thời Tây Sơn chiếm đô thành Phú Xuân).
Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Tăng cang Mật Hoằng lại lo trùng tu lại chùa Thập Tháp Di-đà ở Bình Định, là Tổ đình của phái thiền Lâm Tế Đàng Trong, do Tổ sư Nguyên Thiều thành lập khi Tổ từ Trung Hoa mới sang Đàng Trong. Tăng cang còn cúng cho chùa này một tấm hoành có viết tên “Thập Tháp Di-đà Tự”, hiện vẫn còn.
Ngày mùng 1 tháng 10 năm Ất Mùi (năm 1835), Thiền sư Tổ Ấn Mật Hoằng viên tịch tại chùa Quốc Ân (Huế) thọ 101 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ ở bên hông chùa. Bia tháp có ghi: “Sắc tứ Thiên Mụ tự, Trụ trì Mật Hoằng Đại lão Hòa thượng chi tháp”.
Long vị ở chùa Quốc Ân ghi: Sắc tứ Thiên Mụ Trụ trì, trùng kiến Quốc Ân, Lâm Tế chánh tông, tam thập lục thế, húy Tổ Ấn, thượng Mật hạ Hoằng, Lão Hòa thượng.
Chùa Long Hưng hay chùa Tổ (Tổ Đỉa) ở tỉnh Sông Bé cũng có thờ long vị của Hòa thượng Mật Hoằng.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, Thừa Thiên phủ, viết về Thiền sư Mật Hoằng như sau:
Nguyễn Mật Hoằng, Người huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, 15 tuổi xuất gia, lưu ngụ Gia Định đầu thiền ở chùa Đại Giác, tu trì giới hạnh. Đời vua Duệ Tông Hoàng đế, năm thứ bảy (Quí Tỵ, 1773) Hoằng mới cắt tóc làm thầy. Năm Gia Long thứ mười ba, vua triệu Hoằng về kinh cấp cho chức Tăng cang Trụ trì chùa Thiên Mụ, quán thống tăng chúng. Mùa đông năm Minh Mạng thứ mười sáu (1835) Hoằng tịch, thọ 101 tuổi.
Hòa thượng Mật Hoằng có đệ tử nổi danh là Thiền sư Tiên Huệ Tịnh Nhãn, sau cũng được vua nhà Nguyễn cử làm Tăng cang, Trụ trì chùa Thiên Mụ.
Thiền sư Tánh Thiên Nhất Định, một danh tăng ở kinh đô Huế thời nhà Nguyễn, sau được vua Minh Mạng phong chức Tăng cang chùa Giác Hoàng (năm 1839), Tổ khai sơn chùa Từ Hiếu (Huế), cũng đã cầu pháp với Hòa thượng Mật Hoằng (thế độ với Hòa thượng Đạo Minh Phổ Tịnh chùa Báo Quốc).
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Nhóm nhân vật
2 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn