Nội dung gốc & ChatGPT
Thông tin chính
Chùa Anh Linh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bạn có tin nhắn mới
(thay đổi gần đây).
| Chùa Anh Linh (Anh Linh Tự) | |
|---|---|
| Vị trí | |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Địa chỉ | phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội |
| Thông tin | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Khởi lập | công chúa Trần Khắc Hãn |
| Quản lý | Giáo hội Phật giáo Việt Nam |
Chùa Anh Linh hay Anh Linh Tự nằm ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Chùa do công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp nhân dân khai hoang, lập làng và xây dựng nên chùa này.
Năm 1993, chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật.[1][2]
Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]
Tương truyền, sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất (năm Mậu Ngọ 1258), để phát triển sản xuất làm cho dân ấm no, quốc gia hưng thịnh, Vua Trần đã xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa chiêu tập dân phiêu tán để khai khẩn đất hoang, mở rộng vùng ven kinh thành Thăng Long. Theo chiếu chỉ, công chúa Túc Trinh, con gái vua Trần Nhân Tông, đã rời cung điện ra vùng phía tây bắc kinh thành Thăng Long. Công chúa bỏ tiền bạc phát chẩn, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ đất cấy trồng làm ăn sinh sống, thành làng, thành xóm.
Sau khi lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm để làm tiếp việc ân đức. Anh Linh Tự do công chúa Túc Trinh bỏ tiền bạc ra xây dựng, ngày đêm chăm lo Phật đạo, giáo hóa chúng sinh, dạy dân cày cấy, lập làng Kẻ Noi (nay là xã Cổ Nhuế). Để tưởng nhớ công ơn của Bà, nhân dân xã Cổ Nhuế thờ Bà làm Hậu phật tại chùa Anh Linh và Thiên Phúc. Các đền, miếu trong thôn thờ Bà, lấy tên là Tối Linh Từ và tôn Bà làm Thần Chủ.
Chùa có mặt bằng hình chữ "đinh", tiền đường gồm 3 gian xây kiểu "tường hồi bít đốc". Hai bộ vì gian giữa làm kiểu "giá chiêng, con nhị", phân cốn nách là nhà tổ, một bên là nhà Mẫu.
Tượng Phật trong chùa đầy đủ, có phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Chùa còn lưu giữ được tấm bia Cảnh Trị đời Lê 1664 và bia Tự Đức 12 1864. Chùa đã từng bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp và đã qua nhiều lần sửa chữa.
Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ “Chùa Anh Linh”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2010.
- ^ CHÙA ANH LINH (Anh Linh Tự)[liên kết hỏng]
| Bài viết liên quan đến kiến trúc đền, chùa, tu viện Phật giáo tại Việt Nam này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. |
Khảo cứu địa danh
Tư liệu mở rộng
http://dulich24.com.vn/du-lich-huyen-tu-liem/chua-anh-linh-id-3647
Chùa Anh Linh
Tên một ngôi chùa ở xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Tương truyền, chùa này do công chúa Trần Khắc Hãn, con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp dân khai hoang, lập làng và xây dựng chùa này.
Giới thiệu Chùa Anh Linh

Anh Linh Tự do công chúa Túc Trinh bỏ tiền bạc ra xây dựng, ngày đêm chăm lo Phật đạo, giáo hóa chúng sinh, dạy dân cày cấy, lập làng Kẻ Noi (nay là xã Cổ Nhuế). Để tưởng nhớ công ơn của Bà, nhân dân xã Cổ Nhuế thờ Bà làm Hậu phật tại chùa Anh Linh và Thiên Phúc. Các đền, miếu trong thôn thờ Bà, lấy tên là Tối Linh Từ và tôn Bà làm Thần Chủ.

Tương truyền, sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất (năm Mậu Ngọ 1258), để phát triển sản xuất làm cho dân ấm no, quốc gia hưng thịnh, Vua Trần đã xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa chiêu tập dân phiêu tán để khai khẩn đất hoang, mở rộng vùng ven kinh thành Thăng Long. Theo chiếu chỉ, công chúa Túc Trinh, con gái Vua Trần Thánh Tông (1240 -1290), đã rời cung điện ra vùng phía tây bắc kinh thành Thăng Long. Công chúa bỏ tiền bạc phát chẩn, cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, vỡ đất cấy trồng làm ăn sinh sống, thành làng, thành xóm. Sau khi lập làng Cổ Nhuế Viên, công chúa Túc Trinh đến làng An Nội, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm để làm tiếp việc ân đức.
Sau này, ngày giỗ công chúa Túc Trinh được tổ chức ở cả hai làng An Hội và Cổ Nhuế. Đêm 30/7 âm lịch hàng năm, làm lễ mở cửa đền. Vào giờ Tý ngày mồng 1/8 âm lịch hàng năm, làm lễ mộc dục và cúng thức. Lễ mộc dục do một vị bô lão trong làng đảm nhiệm, trang phục chỉnh tề, đầu đội khăn xếp, quần trùng, áo dài, chân đi hài vân sảo, tất cả đều màu đỏ. Vị bô lão thay mặt cho cả dân làng làm việc ân đức với Chúa nên hết sức tuân thủ các điều kiêng kỵ: ăn chay một tháng, không ngủ chung với phụ nữ... Nước làm lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với ngũ vị hương. Người nấu nước ngũ vị là đàn bà và cũng phải tuân thủ các điều kiêng cữ như vị bô lão. Trước khi làm lễ, vị bô lão rửa tay gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người, xoa lên mặt, đầu và hai tay, gọi là tẩy uế.
Sau khi mộc dục cho Chúa Bà, các đồ mã cũ đem đốt, dâng đồ mới. Y phục cũ của Chúa Bà được người ta tranh nhau lấy phần đem về để ở bàn thờ tổ tiên với ý nghĩa: có phép mầu nhiệm của Chúa Bà, gia đình sẽ làm ăn hưng thịnh, tránh mọi điều xấu hoặc se thành sợi buộc vào cổ tay, chân hay đeo ở cổ cho trẻ con đi đêm không sợ ma quỷ, đêm ngủ không giật mình. Các bà già cũng lấy một miếng vải áo của Chúa Bà khâu ở vạt áo hoặc buộc vào tràng hạt để cầu mong sau này chết được Chúa Bà giúp sức chầu về cảnh tây phương cực lạc.
Lễ mộc dục xong là đến lễ cúng thức, ông chủ tế đọc chúc văn, nội dung ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh đối với dân làng Cổ Nhuế từ xưa tới nay, cầu xin hồng ân của trời đất, phật, thánh, Chúa Bà ban phúc lành cho quốc thái, dân an.
Sáng ngày mùng 1/8 âm lịch, cúng phật tại chùa Anh Linh, sau đó về đền Chúa làm lễ khai quang, yên vị xin Chúa cúng giỗ. Ngày giỗ Chúa gọi là cúng đối kỵ, có dâng lục cúng: hương, hoa, trà, quả, đăng, thực. Lễ cúng thực gồm có: Cơm tẻ nấu bằng gạo lật, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh; sau nghi lễ cúng thực dâng chè kho, chè lam và kẹo lạc.
Trong ngày giỗ Chúa, dân hai làng Cổ Nhuế và An Nội phải tuân thủ theo lệ: Không rước tượng Chúa đi viễn du, không đốt pháo từ ngày 25/7 - 2/8 âm lịch. Ngày giỗ Chúa toàn dân làm cỗ chay, ăn chay. Những sản vật trong từng nhà sản xuất được đem dâng lễ tại đền như: mít, dừa, lựu, chuối, na, cam, mía, khoai luộc... Ngoài ra, các gia đình, ngõ xóm nằm trên trục đường xã Cổ Nhuế - Chèm đều sắm hoa quả, vàng, hương, đèn nến, oản, phẩm, đặt lên một chiếc bàn con kê ngoài rìa đường, dâng lên đức Chúa Bà, cầu xin Chúa ban phúc cho gia đình, làng xóm khỏe mạnh, làm ăn hưng thịnh, vạn vật sinh sôi, nảy nở. Đêm ngày giỗ Chúa, tại đền có tổ chức hát chèo, diễn tuồng, múa lân, múa rồng, đọc và bình thơ rất sôi nổi.
Thông tin bổ sung
Tối Linh Từ: Di tích lịch sử, nghệ thuật Quốc gia
07:14, 20/10/2022
(SHTT) - Đền bà Chúa thờ công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Thánh Tông, địa chỉ ở thôn Viên, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Đền Bà Chúa ở Cổ Nhuế - Bắc Từ Liêm - Hà Nội
Tương truyền, sau chiến thắng quân Nguyên, ruộng đồng bị bỏ hoang nhiều do dân chúng phải chạy giặc. Lấy phát triển sản xuất nông nghiệp làm kế sách giúp dân ấm no và quốc gia hưng thịnh, vua Trần đã xuống chiếu cho các quan lại, vương hầu, kêu gọi tập hợp nhân dân khai khẩn đất hoang, mở rộng kinh thành Thăng Long.
Công chúa Túc Trinh, người con thứ tư của vua Trần Thánh Tông đã tự nguyện xin cha cho thực hiện chủ trương trên và được cha ưng thuận. Bà rời lầu son gác tía ra ngoại thành, đem tiền bạc về vùng Kẻ Noi, một trong những địa danh cổ nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Bà cấp vốn cho dân nghèo dựng nhà, lập xóm, cùng đồng cam cộng khổ biến đồng cỏ dại thành ruộng lúa trù phú. Bà cũng đến cả làng An Hội để chỉ bảo cho dân cách khai hoang, cấy cầy, trồng trọt.
Vùng Kẻ Noi nhanh chóng trở nên trù phú. Tại đây, công chúa còn cho dựng chùa Anh Linh, ngày đêm chăm lo Phật đạo, giáo hóa chúng sinh. Để tưởng nhớ công ơn đó, dân xã Cổ Nhuế đã thờ Bà làm Hậu phật tại các chùa Anh Linh và Thiên Phúc.
Bia ký - Nơi có bài ký ghi lại sự tích của Đền
Ngôi đền trong thôn Viên cũng là một nơi thờ Bà, có tên là Tối Linh Từ, dân quen gọi là đền (Bà) Chúa. Đền được xây từ thời Lê Trung Hưng và đã qua trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Ngày 21/6/1993, Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng ngôi đền và các chùa Anh Linh, Sùng Quang là cụm Di tích lịch sử, nghệ thuật quốc gia tại Cổ Nhuế.
Tòa tiền tế của ngôi đền gồm 5 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”
Đền Bà Chúa có khuôn viên thoáng đãng với tường gạch bao kín xung quanh. Cổng chính được xây khá đơn giản, mặt nhìn về hướng Đông - Nam ra ngõ. Du khách bước qua tam quan sẽ thấy một sân trước rộng rãi, hai bên có hai dãy nhà giải vũ 5 gian. Ngôi đền ở phía sau, bên hữu có một cổ thụ dáng đẹp và rất cao.
Tòa tiền tế của ngôi đền gồm 5 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Bộ vì ở đây làm theo kiểu “giá chiêng kẻ chuyền, cốn nách kẻ ngồi”, trên các cấu kiện gỗ có chạm đôi nét hoa văn với phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Toà hậu cung có mặt bằng hình chữ đình.
Bia đá ghi sự tích Đền bà Chúa và những lần tu sửa
Để mở rộng lòng nhà, hậu cung được làm theo kiểu “giá chiêng kép” trốn bớt cột. Nơi đây không có trang trí gì ngoài ở các đầu bẩy hiên. Bên trong điện có tượng thờ công chúa Túc Trinh và một số tượng hầu. Ngoài ra còn phải kể đến một tấm bia đá mang niên đại Minh Mạng thứ 17 (1836) ghi lại sự việc tu sửa đền.
Đền có tượng thờ công chúa và một số sơ đồ thờ như khám, tượng hầu. Có một tấm bia thời Minh Mạng 17 (1836) ghi lại việc tu sửa đền.
Sắc phong triều Nguyễn (Niên hiệu Khải Định năm thứ 9-1924)
Lễ giỗ Bà Chúa hàng năm được tổ chức tại đền trong 3 ngày từ 30 tháng 7 đến mùng 2 tháng 8 âm lịch, với sự tham gia đông đảo của cả nhân dân hai làng An Hội và Cổ Nhuế .
Lối vào mộ Bà Chúa tại Gò Đống Trại đầu thôn Viên
Mộ Bà Chúa từ mặt trước
Đêm 30/7 âm lịch làm lễ mở cửa đền. Vào giờ Tý ngày mồng 1/8 âm lịch hàng năm, làm lễ mộc dục và cúng thức
Sáng ngày mùng 1/8 âm lịch, cúng phật tại chùa Anh Linh, sau đó về đền Chúa làm lễ khai quang, yên vị xin Chúa cúng giỗ
Nhân dịp này, ngoài việc Lễ thì còn có biểu diễn văn nghệ và chơi các trò dân gian như đánh cờ người, chọi gà…
Quang Huyên - Sỹ Minh

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn