Nội dung gốc & ChatGPT
Thông tin chính
Chùa Bồ Đề (Hà Nội)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bạn có tin nhắn mới
(thay đổi gần đây).
Đối với các định nghĩa khác, xem Chùa Bồ Đề.
| Chùa Bồ Đề | |
|---|---|
| Vị trí | |
| Quốc gia | |
| Địa chỉ | phố Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội |
| Thông tin | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Tông phái | Giáo hội Phật giáo Việt Nam |
| Quản lý | Giáo hội Phật giáo Việt Nam |
| Trụ trì | Thích Đàm Lan |
Chùa Bồ Đề nằm ở phố Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội (trước kia thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), cách bờ bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về phía Nam.[1] Nơi chùa chính thờ Phật pháp, vương triều nhà Trần, tam toà thánh Mẫu.[2] Năm 2014, Chùa Bồ Đề dính dáng đến nghi án mua bán trẻ em làm rung động dư luận Việt Nam.[3] Chùa Bồ Đề từng được gọi là "nơi bình yên" hay nơi cứu rỗi những mảnh đời bị bỏ rơi giữa chốn nhân gian.[4]
Nơi đây là bến Bồ Đề, nơi Lê Lợi đóng quân đánh thành Đông Quan, đánh đuổi quân Minh xâm lược.
Chùa Bồ Đề có tên chữ là Thiên Sơn. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ. Chùa chỉ còn tòa thượng 5 gian xây trên nền cao, dáng bề thế, cổ kính. Bồ Đề hiện nay là một phường thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Sở dĩ gọi là "Bồ Đề" vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông.
Chùa Bồ Đề còn có tên gọi là Thiên Sơn tự. Chùa toạ lạc tại thôn Phú Yên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, cách bờ Bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về hướng Nam, nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa nữ và cũng là mái ấm tình thương đùm bọc, cưu mang trẻ mồ côi. Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472. Các tài liệu lịch sử còn ghi lại là: "Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì". Dinh được gọi tên là dinh Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "Đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ. Thế nhưng, cũng có nhiều ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời (nên còn có tên gọi là Thiên Sơn). Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành. Đến giữa thế kỉ XVIII, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại. Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835 - 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cửa Tam quan. Đầu thế kỉ XX, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Trí Hải đảm trách. Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã dời đi nơi khác. Năm 1951, thành phố bị lũ lụt lớn, chùa bị sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện. Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu như kê kích lại toàn bộ thượng điện và xây dựng lại hậu cung phía sau, nâng cao nền chùa. Năm 1986, chùa được trùng tu nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà Tăng, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của hơn 50 cô nhi đang được nuôi dạy tại chùa. Năm 1999, chùa tiếp tục xây lầu bát giác và tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm cao 3,2m. Hiện nay, chùa là mái ấm tình thương dành cho các em bé mồ côi, cơ nhỡ, đồng thời cũng là điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước
Các Thế Hệ Truyền Thừa Tại Tổ Đình Bồ Đề[sửa | sửa mã nguồn]
- Thế hệ thứ nhất: Tổ Nguyên Biểu Thiền Sư, pháp húy Thích Nhất Thiết (1836 - 1906), thế danh Phạm Đình Vợi.
- Thế hệ thứ 2: Thích Quảng Trí, Thích Quảng Chấn, Thích Quảng Tựu, Thích Quảng Ích, Thích Quảng Gia.
- Thế hệ thứ 3: Thích Tục Kiên, Thích Tục Thức, Thích Tục Đương, Thích Tục Khê, Thích Tục Đoan (tổ Cao Đà Thích Thông Đoan).
- Thế hệ thứ 4: Thích Tâm Tịch.
- Thế hệ thứ 5: Thích Bảo Nghiêm (1956), Thích Nguyên Hạnh (1957), Thích Nguyên Huân (1967, giám viện tổ đình).
Ngoài ra Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu phó chủ tịch thường trực hội đồng trị sự cũng thuộc sơn môn Bồ Đề.
Các đời trụ trì[sửa | sửa mã nguồn]
- Tổ Bồ Đề Thích Nguyên Biểu (1836 - 1906)
- Hoà Thượng Thích Trí Hải (1906 -1979)
- Hoà Thượng Thích Tâm Tịch (1915 -2005), đệ nhị pháp chủ GHPGVN
- Ni sư Thích Đàm Lan (1956)
Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]
Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ Chùa Bồ Đề - nơi bình yên
- ^ “Tiếng ru con ở chùa Bồ Đề”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2022.
- ^ Vụ chùa Bồ Đề mua bán trẻ em: Hé lộ sự tham gia của phòng khám tư?
- ^ “Chùa Bồ Đề từng được gọi là "nơi bình yên"”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2014.
| ẩn | |
|---|---|
| Chùa tại các tỉnh | |
| Chùa tại Hà Nội |
|
| Chùa tại TPHCM | |
| Bài viết liên quan đến kiến trúc đền, chùa, tu viện Phật giáo tại Việt Nam này vẫn còn sơ khai. Bạn có thể giúp Wikipedia mở rộng nội dung để bài được hoàn chỉnh hơn. |
Khảo cứu địa danh
Tư liệu mở rộng
Chùa Bồ Đề (Thiên Sơn tự – Long Biên, Hà Nội) – Chốn Thiêng (chonthieng.com)
Giới thiệu
Chùa Bồ Đề có tên chữ là “Thiên Sơn Tự” hay “Thiên Cổ tự” là một ngôi chùa cổ có lịch sử xây dựng lâu đời.
Sở dĩ gọi là “Bồ Đề” vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông. Chùa toạ lạc tại thôn Phú Yên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, cách bờ Bắc cầu Chương Dương khoảng 500m về hướng Nam, nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa nữ và cũng là mái ấm tình thương đùm bọc, cưu mang trẻ mồ côi.

Lược sử
Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472. Các tài liệu lịch sử còn ghi lại là: “Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì”. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ “Đại công đức Bồ Đề” của vua Lê Thái Tổ.
Thế nhưng, cũng có nhiều ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời (nên còn có tên gọi là Thiên Sơn). Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành.
Đến giữa thế kỉ XVIII, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại. Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835 – 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ. Ni sư Thích Đàm Lan đảm nhận trụ trì từ 1972 tới nay.
Kiến trúc
Tổng thể kiến trúc chùa gồm nhiều công trình như: chùa chính, nhà Tổ, Điện Mẫu, nhà khách, khu mộ tháp, nhà ở, bếp và các công trình phục vụ…Đáng chú ý nhất là chùa chính với kiến trúc có hai phần là Tiền đường và Thượng điện kết cấu liền nhau theo lối chữ Đinh.

Tiền đường có 5 gian 2 chái, có 4 mái làm đao cong các góc, lợp ngói ta, nền lát gạch. Nền chùa làm cao để tránh nước ngập mùa lũ với 11 bậc thềm, cao gần 2m, hai bên thềm có đôi Sấu đá mang phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê. Tiền đường kết cấu 6 hàng chân, vì thượng làm giá chiêng, trung kẻ chuyền, hạ là kẻ, riêng gian giữa làm cốn vì trung phía trước, phía sau là ván gió thông liền vào Hậu cung.
Hiên bố trí suốt cả trước và hai bên Tiền đường, ở ngoài giáp mái có xây tường hoa lan can chắn, bên trong hiên có cửa dạng bức bàn cả ở trước và hai bên. Toàn bộ Tiền đường có khung bằng gỗ Tứ thiết. Trên nóc Tiền đường có ghi niên đại trùng tu chùa năm Nhâm Dần (1902). Trên kiến trúc Tiền đường có chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn như: lá cúc, cúc dây, lan đằng ở cốn và các kẻ, các họa tiết có phần giản lược trên kiến trúc gỗ bào trơn, ghép bén, soi gờ.
Thượng điện của chùa làm mái vòm cuốn bê tông, bên ngoài có xây thành 3 lầu gác Chuông, mái làm đao 2 tầng chồng diêm tạo cho kiến trúc bớt nặng nề. Hậu cung đã được sửa lại sau chiến tranh. Tại Tiền đường có các tượng thờ Phật gồm: Đức Ông, Thánh Tăng cùng Diệm Nhiên, Đại sĩ ở Tiền đường. Tam bảo có các tượng: Tam thế, A Di Đà, Văn Thù- Phổ Hiền, Di Đà giảng đạo, A Na Ca Diếp, Ngọc Hoàng, Cửu Long; ở hai bên Tam Bảo có tượng Địa Tạng và Quan Âm. Hầu hết các tượng Phật ở chùa được tạo tác ở thời Nguyễn. Ngoài tượng ở Chùa còn có 5 đôi câu đối gỗ, có cửa võng thiều châu, hoành phi, đây là những cổ vật có trang trí đẹp, mang dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX.
Phía trước sân chùa có 2 nếp nhà, bên phải là Điện Mẫu, bên trái là Nhà Tổ. Hai nếp nhà này đều làm bê tông giả gỗ, bố cục Hậu cung chuộc duộc, tường hồi bít đốc tay ngai có trụ biểu, nhưng mái lợp ngói di, đã duy trì được dáng vẻ bên ngoài lối kiến trúc cổ truyền. Điện Mẫu và nhà Tổ có tượng Tổ, tượng Mẫu, mới có linh vị của Thượng tọa Thích Tâm Tịch.
Trong Nhà Tổ, Điện Mẫu có nhiều di vật như: câu đối, hoành phi, cửa võng thiều châu, khám thờ, được nhân dân cung tiến và nhà chùa khôi phục vào thời gian gần đây. Bên phải của chùa chính là khu nhà khách, nhà học hạ của các sư, các công trình phục vụ sinh hoạt của nhà chùa.
Di vật
Trong các di vật cổ của chùa có 4 tấm bia đá có niên đại: Hoằng Định thứ 15 (1614), Minh Mệnh thứ 19 (1838), Thành Thái thứ 17 (1905), Khải Định thứ 5 (1920). Ba bia thời Nguyễn ghi tên những người công đức tu sửa, gửi giỗ ký hậu ở chùa.
Đánh giá
Chùa Bồ Đề ra đời, tồn tại đã có sự gắn bó chặt chẽ với lịch sử truyền thống của kinh đô Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, là nơi ghi nhận quá trình xây dựng, phát triển của lịch sử địa phương, các cổ vật trong chùa rất có giá trị. Chùa Bồ Đề đã và đang trở thành một di tích lịch sử văn hóa đẹp trong quần thể các di tích của quận Long Biên. Chùa luôn được chọn là một trụ sở đào tạo, học hành của Thành hội Phật giáo Hà Nội.
Tham khảo
- https://phatgiaohanoi.vn/chua-bo-de-long-bien.html
- https://vi.wikipedia.org/
- https://chuabode.com.vn/duan/gioi-thieu-ve-chua-bo-de-long-bien-ha-noi/
- https://dulichdiaphuong.com/du-lich/du-lich-chua-bo-de-672.html

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn