Nội dung gốc & ChatGPT
Thông tin chính
Chùa Liên Phái
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bạn có tin nhắn mới
(thay đổi gần đây).
| Chùa Liên Phái | |
|---|---|
| Vị trí | |
| Quốc gia | Việt Nam |
| Địa chỉ | ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. |
| Thông tin | |
| Tôn giáo | Phật giáo |
| Tông phái | Phái Liên Tông |
| Khởi lập | 1726 |
| Người sáng lập | Trịnh Thập |
| Quản lý | Giáo hội Phật giáo Việt Nam |
Chùa Liên Phái là một ngôi chùa ở thủ đô Hà Nội, Việt Nam. Chùa nằm trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, thuộc phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng. Liên Phái là tên của chùa từ năm 1840, trước đó chùa có tên là Liên Hoa rồi Liên Tông.
Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]
Theo kể lại, chùa Liên Hoa được dựng lên sau khi ông hoàng Trịnh Thập (có tài liệu ghi là Trịnh Hợp) (sinh năm 1696, mất năm 1733) con Tấn Quang Vương Trịnh Bính, là cháu nội Chúa Trịnh Căn và là Phò mã vua Lê Hy Tông (Trịnh Thập lấy người công chúa thứ 4) phát hiện một ngó sen sau khi đào đất ở gò cao sau phủ (phường Hồng Mai, sau đổi tên thành Bạch Mai)) để xây bể cạn. Trịnh Thập cho rằng đây là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo. Vì vậy, Trịnh Thập quyết định chuyển phủ của mình thành chùa Liên Hoa, đồng thời theo đạo Phật, trở thành Lân Giác Thượng Sĩ trụ trì trong chính ngôi chùa này. Theo tấm bia đá khắc năm Tự Đức thứ 10 (1857) hiện còn ở chùa, chùa được xây dựng vào năm Bảo Thái thứ 7 (tức 1726). Năm 1733, Trịnh Thập (lúc đó mới 37 tuổi) mất và được chôn cất trong Tháp Cứu Sinh xây ở chính nơi tìm thấy ngó sen. Sau đó, chùa được đổi tên thành chùa Liên Tông. Đến năm 1840, chùa được đổi tên thành Liên Phái như hiện nay vì kiêng huý vua Thiệu Trị.
Các đời trụ trì[sửa | sửa mã nguồn]
- Thiền Sư Như Trừng Lân Gíac
- Thiền sư Tính Dược
- Tổ Khai Sơn
- Tổ Bảo Sơn
- Tổ Từ phong
- Hòa thượng Thích Thanh Tuệ (?-6/1992)
- Hòa Thượng Thích Gia Quang (1954) trụ trì (1992- nay)
Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]
Chùa đã được nhiều lần tu sửa, trong đó được sửa chữa lớn vào các năm Ất Mão (1855) và Kỷ Tỵ (1869). Trước cổng chùa là ngôi tháp Diệu Quang cao 10 tầng có hình lục lǎng, đây là ngôi tháp xây theo kiểu 1 tòa Cửu Phẩm Liên Hoa và là tòa Tháp Cổ nhất, lai lịch rõ nhất trong nội Đô Hà Nội. Có hai hồ rộng ở hai bên cổng chùa. Trong chùa, có một sân rộng, nhà bái đường và khu tam bảo là nơi thờ Phật. Nhà tổ cách khu tam bảo một sân nhỏ. Ngoài ra, chùa còn có nhà bia với 34 tấm bia ghi sự tích và lịch sử của chùa cũng như tên những người đóng góp công đức.
Phía sau chùa là khu vườn tháp với 9 ngôi tháp xây thành 3 hàng trên một gò đất cao lần lượt có 2, 5 và 2 ngôi tháp. Ở hàng giữa có tháp Cửu Sinh xây bằng đá - đây là ngôi tháp cổ nhất trong nội thành Hà Nội. Khoảng năm 1890, người ta còn xây dựng một ngọn tháp cao 9 tầng có kiến trúc rất đẹp trong chùa.
Ngoài tượng Phật, trong chùa còn có tượng Lân Giác Thượng Sĩ và một quả chuông có khắc chữ "Liên Tông tục diện" (có nghĩa "Liên Tông kế tục sáng ngời").
Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
- Sổ tay Văn Hoá Việt Nam, Đặng Đức Siêu, Nhà Xuất Bản Lao động 2006
Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]
Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]
- Du lịch Hà Nội - Chùa Liên Phái Lưu trữ 2006-11-02 tại Wayback Machine.
Khảo cứu địa danh
Tư liệu mở rộng
Đặc sắc kiến trúc cổ chùa Liên Phái và những chuyện đặc biệt
Minh Tuệ tổng hợp
Nằm cuối con ngõ cùng tên ở phố Bạch Mai, phường Cầu Dền, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, chùa Liên Phái là một ngôi chùa có kiến trúc cổ với giá trị lịch sử đặc biệt của kinh thành Thăng Long xưa.
Chuỗi vòng may mắn của bạn, xem ngay!.
Do Hòa thượng Trịnh Thập sáng lập
Chùa được xây dựng bởi sự phát tâm của Trịnh Thập (cháu nội Chúa Trịnh Căn và là con rể vua Lê Hy Tông) sau khi phát hiện một ngó sen lúc đào đất ở gò cao sau phủ để xây bể cạn.
Cho rằng đây là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo, Trịnh Thập quyết định chuyển phủ của mình thành chùa Liên Hoa (nay là Liên Phái), đồng thời theo đạo Phật, trở thành Như Trừng Lân Giác trụ trì trong chính ngôi chùa này.
Tượng Hòa thượng Trịnh Thập tại chùa Liên Phái.
Kiến trúc cổ chùa Liên Phái
Chùa Liên Phái là số ít các chùa tại Hà Nội còn giữ nguyên được dáng cổ. Chùa xây năm 1726, là tổ đình của Thiền phái Liên Tông (dòng hoa sen) – một trong những phái thiền của Phật giáo bản địa Việt Nam – xuất hiện cuối thời Hậu Lê.
Thời vua Lê Dụ Tông (1705 – 1729) chùa có tên là Liên Hoa, đến năm 1733, chùa đổi tên là Liên Tông. Năm 1841, vì phải kiêng tên Nguyễn Phúc Miên Tông của vua Thiệu Trị nên chùa đổi tên là Liên Phái. Trên cổng ngõ ở bên tay phải số nhà 182, phố Bạch Mai có đề tên chùa bằng cả chữ Hán lẫn Quốc ngữ.
Tam quan chùa Liên Phái mới làm năm 2013, theo kiểu cổng chùa Kim Liên thu nhỏ.
Qua các thời kỳ lịch sử, chùa đã được tu bổ nhiều lần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm Ất Mão 1855, dành 1000 quan tiền và 6 năm để sửa lại nhà Tổ, nhà tăng, tả hữu vu và tô tượng Phật, v.v.. Năm Kỷ Tỵ 1869 chùa làm thêm gác chuông, xây dựng tường bao. Cuối thế kỷ 19 xây ngôi tháp lục giác, đặt xá lợi Tổ Diệu Quang cùng 5 nhà sư khác ngay trước cổng, hai bên có hồ rộng (nay không còn). Tiếp đến là nhà bia với 34 tấm bia ghi lại sự tích của chùa và các lần tu bổ, cũng như tên những người đóng góp công đức. Quy mô hiện nay của chùa hầu như không thay đổi gì mấy kể từ các lần tu bổ này.
Cổng chùa Liên Phái.
Công trình kiến trúc tiêu biểu của chùa Liên Phái là tháp Diệu Quang nằm phía trước chùa. Tháp có hình lục lăng cao 10 tầng, quy mô tương đối lớn, được coi là kiến trúc quý hiếm vào bậc nhất trong các ngôi chùa ở Hà Nội.
Tháp Diệu Quang ngày nay.
Tháp Diệu Quang chùa Liên Phái ảnh tư liệu thế kỷ 20.
Phía sau tháp Diệu Quang là nhà bia. Trong nhà bia có tấm bia ghi lại lịch sử hình thành, các lần tu bổ và tên những người đóng góp công đức tu bổ và xây dựng chùa.
Nhà bia và vườn trước chùa Liên Phái.
Từ nhà bia đi qua một khoảng sân rộng là khu chùa chính. Tòa tam bảo có 5 gian, được dựng trên bộ khung bằng gỗ với sáu vì kèo đỡ mái, được làm theo kiểu “chồng rường” và kiểu “quá giang cột trốn”. Nét nổi bật trong tòa Tam bảo là những cửa võng được sơn son thếp vàng lộng lẫy, chạm trổ công phu, tỉ mỉ bằng kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng với các đề tài tứ linh, đan xen hoa lá mang tính nghệ thuật cao.
Cửa ngách vào khu vực thờ cúng của chùa Liên Phái.
Ngoài hệ thống tượng Phật, chùa còn có tượng thiền sư Thượng Sĩ Lân Giác - người sáng lập chùa. Cổ vật đáng chú ý là một quả chuông có chữ "Liên Tông tục diện" (nghĩa là Liên Tông kế tục sáng ngời) thời Lê Trung Hưng.
Bài liên quan
Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Phật dạy rằng chúng ta không nên chạy trốn bản thân mình
Thi tiên Bạch Cư Dị và cuộc hội duyên với thiền sư Ô Sào
Bí mật của các thiền sư Nhật Bản: Tự ướp xác chính họ
Sau chùa là khu vườn tháp được xây dựng trên một gò đất cao, trong đó có ngôi tháp Cửu Sinh xây bằng đá có niên đại hơn 250 tuổi. Theo bản vẽ từ giữa thế kỷ 20 của Louis Bézacier thì trước đây ở quanh sân chùa Liên Phái có 30 ngọn tháp, đến nay chỉ còn 7 ngọn xếp thành hai hàng. Đáng chú ý nhất là toà Cửu phẩm ở hàng trước, được coi như quý hiếm vào bậc nhất trong các ngôi chùa cổ ở Hà Nội. Năm 1962, chùa được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.
Câu chuyện về "trùng tang" ở chùa Liên Phái
Không chỉ nổi bật với kiến trúc cổ đặc sắc, Liên Phái là một ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội về việc xem trùng tang và cho bùa trùng tang. Người Hà Nội thường hay về đây để xem việc người thân trong gia đình mất có trùng tang hay không và xin ngày giờ liệm, ngày giờ hạ huyệt.
Sinh thời, thấy chúng sinh quá lo sợ “trùng tang”, Hòa thượng Trịnh Thập đã viết nên pho kinh “Thập nguyện cứu sinh” và bộ ván in khắc phù giải cổ, để chuyên hóa giải Trùng tang cho các vong linh chết trùng và giúp cho những vong hồn được siêu linh.
Bên cạnh việc tập trung xây dựng chùa Liên Phái, thầy Như Trừng Lân Giác còn khởi công xây dựng chùa Hàm Long trở thành Đệ Nhất chùa "Giữ vong bị trùng tang". Cùng với đó, chùa Liên Phái trở thành chùa Đệ Nhất trong việc giúp cho người dân được an tâm hướng về Phật pháp và hiểu rõ về chuyện làm gì khi người thân mất đi.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn