Mục lục nhân vật
Gedun Drupa (Căn-đôn Châu-ba, དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, 1391–1474) - Đạt Lai Lạt Ma đời 1
Căn-đôn Châu-ba (bo. dge `dun grub pa དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, sa. saṅghasiddhi) (sinh năm 1391 – mất ngày 15 tháng 01 năm 1475), là giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1438–1475, là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang (bo. rgyal dbang རྒྱལ་དབང་) – "Người chiến thắng" – và sắc thụy là Đạt-lại Lạt-ma thứ nhất. Sư sáng lập rấ...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #338
- Khởi tạo
- 07/03/2023
- Cập nhật gần nhất
- 21/10/2026 19:29
- Lượt xem
- 492
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Căn-đôn Châu-ba (bo. dge `dun grub pa དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, sa. saṅghasiddhi) (sinh năm 1391 – mất ngày 15 tháng 01 năm 1475), là giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1438–1475, là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang (bo. rgyal dbang རྒྱལ་དབང་) – "Người chiến thắng" – và sắc thụy là Đạt-lại Lạt-ma thứ nhất. Sư sáng lập rất nhiều ngôi chùa, trong số đó, chùa Trát-thập Luân-bố (bo. bkra shis lhun po བཀྲ་ཤིས་ལྷུན་པོ་) nổi danh hơn hết. Sư được xem là người đầu tiên trong dòng Cách-lỗ đề xướng việc duy trì chính pháp bằng một dòng tái sinh. Sau khi Sư qua đời, môn đệ bắt đầu tìm một hiện thân mới của Sư, đó cũng chính là sự bắt nguồn của dòng Đạt-lại Lạt-ma được truyền cho đến ngày nay. Hiện thân kế thừa Sư là Căn-đôn Gia-mục-thố (bo. dge `dun rgya mtsho དགེ་འདུན་རྒྱ་མཚོ་), Đạt-lại Lạt-ma thứ hai.
Căn-đôn Châu-ba
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Gendun Drup)
Bạn có tin nhắn mới
(thay đổi gần đây).
|
Bài viết này cần thêm chú thích nguồn gốc để kiểm chứng thông tin. Mời bạn giúp hoàn thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn đáng tin cậy. Các nội dung không có nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. |
| Căn-đôn Châu-ba | |
|---|---|
| Đạt-lại Lạt-ma thứ nhất | |
| Thống trị | N/A |
| Kế vị | Căn-đôn Gia-mục-thố |
| Tiếng Tạng | དགེ་འདུན་གྲུབ། |
| Wylie | dge ’dun grub |
| Phát âm | [kẽ̀tyn tʂʰùp] |
| Chuyển tự (TQ) |
Gêdün Chub |
| THDL | Gedün Drup |
| Phụ thân | Gonpo Dorjee |
| Mẫu thân | Jomo Namkha Kyi |
| Ngày sinh | 1391 Shabtod, Ü-Tsang, Tây Tạng |
| Ngày mất | 1474 (82–83 tuổi) Tây Tạng |
Căn-đôn Châu-ba (bo. dge `dun grub pa དགེ་འདུན་གྲུབ་པ་, sa. saṅghasiddhi) (sinh năm 1391 – mất ngày 15 tháng 01 năm 1475), là giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1438–1475, là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang (bo. rgyal dbang རྒྱལ་དབང་) – "Người chiến thắng" – và sắc thụy là Đạt-lại Lạt-ma thứ nhất. Sư sáng lập rất nhiều ngôi chùa, trong số đó, chùa Trát-thập Luân-bố (bo. bkra shis lhun po བཀྲ་ཤིས་ལྷུན་པོ་) nổi danh hơn hết. Sư được xem là người đầu tiên trong dòng Cách-lỗ đề xướng việc duy trì chính pháp bằng một dòng tái sinh. Sau khi Sư qua đời, môn đệ bắt đầu tìm một hiện thân mới của Sư, đó cũng chính là sự bắt nguồn của dòng Đạt-lại Lạt-ma được truyền cho đến ngày nay. Hiện thân kế thừa Sư là Căn-đôn Gia-mục-thố (bo. dge `dun rgya mtsho དགེ་འདུན་རྒྱ་མཚོ་), Đạt-lại Lạt-ma thứ hai.
Sư sinh năm 1391, trong một gia đình du mục trong tỉnh Tsang. Cha mất khi Sư lên bảy và ngay sau đó, Sư được mẹ gửi đến một vị thầy danh tiếng bấy giờ là Drub-pa She-rab, vị Tổ thứ 14 của dòng Nar-thang. Nơi đây, Sư thụ giới Sa-di.
Năm lên 20, Sư thụ giới cụ túc và trong khoảng thời gian sau đó, Sư tham học dưới sự hướng dẫn của nhiều vị thầy, chuyên cần nghiên cứu kinh, luận của các vị Đại luận sư Ấn Độ như Long Thụ, Vô Trước và A-đề-sa. Ngoài ra, Sư cũng tinh thông các ngành như thi pháp, từ điển học (en. lexicography), văn phạm… Học lực cao thâm của Sư có thể giải thích phần nào việc nắm giữ chính quyền song song với việc duy trì Phật pháp của các vị Đạt-lại Lạt-ma sau này. So với khả năng, tài sức của các Vương triều trước đây thì quả nhiên là khả năng của các vị Đạt-lại Lạt-ma vượt trội hơn nhiều.
Tông-khách-ba trực tiếp hướng dẫn Sư vào thuyết Trung quán qua Căn bản trung quán luận tụng (sa. mūlamadhyamaka-śāstra-kārikā) của Long Thụ, Nhập trung luận (sa. madhyamakāvatāta) của Nguyệt Xứng (sa. candrakīrti). Ngoài ra, Sư cũng thông hiểu Nhân minh học (sa. hetuvidyā), tự tay dịch và chú Lượng thích luận (sa. pramāṇavarttika-kārikā) của Pháp Xứng (sa. dharmakīrti).
Sư sống rất đơn giản, rất khiêm tốn và thường tự nhắc nhở: "Chư Phật chẳng để tâm đến những việc như vinh nhục, khen chê (xem Bát phong)…; và vì thế, ta cũng chẳng nên lưu ý đến chúng." Sư thường răn chúng đệ tử như sau: "Chớ nên tranh cãi với người khác và cũng đừng hài lòng với những lời nói suông, rỗng tuếch. Hãy thực nghiệm ý nghĩa của giáo pháp mà các ngươi đã học được vì chỉ như thế, các ngươi mới bước đi trên Phật đạo. Các vị Tổ thường dạy: giữ lòng từ bi đối với tất cả những loài Hữu tình, tôn trọng những người thực hành Phật pháp. Hãy chinh phục cái Ngã."
Trước khi tịch, Sư căn dặn các đệ tử là không nên xây một bảo tháp xa hoa, chỉ đốt xác và lấy tro nắn thành 1000 tượng Phật Bất Động.
Ngày 15 tháng 1 năm 1475, nhà sư viên tịch, thọ 83 tuổi. Tương truyền rằng, một sự yên lặng lạ lùng kéo dài 13 ngày sau khi ông mất, không một con chim nào hót, đất, nước tự nhiên nóng lên, cây cối rủ lá.
| Một phần trong loạt bài về |
| Phật giáo Tây Tạng |
|---|
|
Tông phái[hiện] |
|
Giáo lý & Khái niệm[hiện] |
|
Nhân vật[hiện] |
Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
- Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
- Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Nhất - Gedun Drupa

Đức Đạt Lai Lạt Ma I, Gedun Drupa, sinh năm 1391 trong một gia đình du mục sống ở Gyurmey Rupa, gần Sakya, thuộc vùng Tsang của miền trung Tây Tạng. Cha Ngài tên là Gonpo Dorjee và mẹ Ngài tên là Jomo Namkha Kyi. Khi sinh ra Ngài được đặt tên là Pema Dorjee.
Khởi đầu, Ngài được vị Thầy tên là NGya-Tôn Tsenda Pa-La dạy đọc và viết chữ Tây Tạng. Đến năm mười bốn tuổi, Ngài được vị Khenchen Drupa Sherab, trụ trì Tu viện Narthang, truyền giới Sadi và ban Pháp danh là Gedun Drupa. Về sau, vào năm 1411, Ngài đã thọ giới Tỳ kheo cũng từ vị Trụ trì này.
Ngay từ thời thơ ấu Ngài Gedun Drupa đã sớm được biết đến danh tiếng của Đại sư Tsong Kharpa, vị Sư tổ của dòng truyền thừa Gelugpa. Về sau, vào năm 1416, Ngài đã trở thành đệ tử của vị Đại sư này. Từ đó, Ngài đã dành toàn tâm toàn ý để học hỏi và phụng sự vị Thầy vĩ đại này và về sau đã được Thầy tín nhiệm trao truyền trở thành đệ tử chính. Đại sư Tsong Kharpa đã trao cho Ngài một bộ y áo tu sĩ mới nguyên như một dấu hiệu mang ý nghĩa Ngài Gendun Drupa sẽ tiếp tục truyền bá Giáo lý Phật Giáo trên khắp Tây Tạng. Năm 1447, Ngài Gedun Drupa thành lập Tu viện Tashi Lhunpo ở Shigatse, một trong những Tu viện Đại Học lớn nhất của dòng Gelugpa.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, Gedun Drupa là một vĩ nhân uyên bác, nổi tiếng với việc kết hợp nghiên cứu và thực hành và đã viết hơn tám bộ sách đồ sộ về sự nội chứng của mình về giáo huấn của Đức Phật và triết lý Đạo Phật. Năm 1474, ở tuổi tám mươi tư, Ngài đã viên tịch trong thời thiền tại Tu viện Tashi Lhunpo.
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Nhóm nhân vật
2 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn