Mục lục nhân vật
Khedrup Gyatso (Khải-châu Gia-mục-thố,1838–1856) - Đạt Lai Lạt Ma đời 11
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XI, Khedrup Gyatso, sinh năm 1838 tại Gathar thuộc vùng Kham Minyak cha Ngài là Tsetan Dhondup và mẹ Ngài là Yungdrung Bhuti. Năm 1841, Ngài được công nhận là hóa thân mới của Đức Đạt Lai Lạt Ma X được vị Ban Thiền Lạt Ma, Tenpai Nyipa làm lễ xuống tóc và đặt cho Pháp danh là Khedrup Gyatso. Năm 1842, Ngài đã được đăng quang tại cung đ...
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #348
- Khởi tạo
- 07/03/2023
- Cập nhật gần nhất
- 22/10/2026 00:25
- Lượt xem
- 456
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XI, Khedrup Gyatso, sinh năm 1838 tại Gathar thuộc vùng Kham Minyak cha Ngài là Tsetan Dhondup và mẹ Ngài là Yungdrung Bhuti. Năm 1841, Ngài được công nhận là hóa thân mới của Đức Đạt Lai Lạt Ma X được vị Ban Thiền Lạt Ma, Tenpai Nyipa làm lễ xuống tóc và đặt cho Pháp danh là Khedrup Gyatso. Năm 1842, Ngài đã được đăng quang tại cung điện Potala và năm mười một tuổi, Ngài đã thọ giới Sa Di từ vị Ban Thiền Lạt Ma. Dù khi đó tuổi đời còn rất trẻ, nhưng thể theo sự thỉnh cầu của người dân Tây Tạng, Ngài đã quyết định đảm nhận vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị của Tây Tạng. Tuy nhiên, vào năm 1856 Ngài đột ngột qua đời ở cung điện Potala.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ Mười Một - Khedrup Gyatso

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XI, Khedrup Gyatso, sinh năm 1838 tại Gathar thuộc vùng Kham Minyak cha Ngài là Tsetan Dhondup và mẹ Ngài là Yungdrung Bhuti.
Năm 1841, Ngài được công nhận là hóa thân mới của Đức Đạt Lai Lạt Ma X được vị Ban Thiền Lạt Ma, Tenpai Nyipa làm lễ xuống tóc và đặt cho Pháp danh là Khedrup Gyatso. Năm 1842, Ngài đã được đăng quang tại cung điện Potala và năm mười một tuổi, Ngài đã thọ giới Sa Di từ vị Ban Thiền Lạt Ma. Dù khi đó tuổi đời còn rất trẻ, nhưng thể theo sự thỉnh cầu của người dân Tây Tạng, Ngài đã quyết định đảm nhận vai trò lãnh đạo tinh thần và chính trị của Tây Tạng. Tuy nhiên, vào năm 1856 Ngài đột ngột qua đời ở cung điện Potala.
.Khedrup Gyatso
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bạn có tin nhắn mới
(thay đổi gần đây).
| Khải-châu Gyatso | |
|---|---|
| Đạt-lại Lạt-ma thứ 11 | |
| Thống trị | 1842–1856 |
| Tiền vị | Sở-xưng Gia-mục-thố |
| Kế vị | Thành-liệt Gia-mục-thố |
| Tiếng Tạng | མཁས་གྲུབ་རྒྱ་མཚོ་ |
| Wylie | mkhas grub rgya mtsho |
| Phát âm | [kʰɛtʂup catsʰɔ] |
| Chuyển tự (TQ) |
Kaichub Gyaco |
| THDL | Kedrup Gyatsho |
| Tiếng Hán | 凱珠嘉措 |
| Ngày sinh | 1 tháng 11 năm 1838 Gathar, Kham, Tây Tạng |
| Ngày mất | 31 tháng 1 năm 1856 (17 tuổi) Lhasa, Tây Tạng |
Khedrup Gyatso hay phiên âm theo Hán Việt là Khải-châu Gia-mục-thố (sinh ngày 1 tháng 11 năm 1838 – mất ngày 31 tháng 1 năm 1856) là Đạt-lại Lạt-ma thứ 11 của Tây Tạng.[1]
Ông được công nhận là hóa thân thứ 11 của Đạt-lai Lạt-ma vào năm 1840, ông xuất thân từ cùng một ngôi làng với Cách-tang Gia-mục-thố, Đạt-lại Lạt-ma thứ 7, sinh năm 1708. Năm 1841, Ban-thiền Lạt-ma thứ 7, Palden Tenpai Nyima, đã làm lễ tôn phong, cắt tóc và ban cho ông tên gọi là Khải-châu Gia-mục-thố.[1]
Năm 1842, ông đăng cơ tại cung điện Potala và đến năm 1849, ở tuổi 11, ông được Ban-thiền Lạt-ma thứ bảy tuyên bố bắt đầu tu hành.[2] Ông nắm đầy đủ quyền lực theo thỉnh cầu của chính quyền vào ngày 1 tháng 3 năm 1855. Tuy nhiên, ông đã qua đời chưa đầy một năm sau đó, và trở thành hóa thân Đạt-lại Lạt-ma thứ ba chết khi còn ở tuổi quá trẻ.
- "Trong thời kỳ của các Đạt-lại Lạt-ma mệnh ngắn—từ hiện thân thứ 9 đến thứ 12, Ban-thiền Lạt-ma là Lạt-ma cai quản, lấp đầy khoảng trống để do các Đạt-lại Lạt-ma để lại khi họ qua đời sớm."[3]
Ông có viết một cuốn sách thơ, Câu chuyện của khỉ và chim (Bya sprel gyi gtam-rgyud). Đó là một chuyện ngụ ngôn về cuộc chiến tranh vào cuối thế kỷ 18 giữa người Tạng và người Gurkha (tương ứng là "chim" và "khỉ").[4]
Trong giai đoạn Khải-châu Gia-mục-thố sống, chiến tranh tại Ladakh đã làm suy yếu sức mạnh của các vị Lạt-ma trên cao nguyên Thanh-Tạng và Chiến tranh Nha phiến cùng khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc đã làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Tây Tạng. Vào những năm cuối ông cai trị, người Nepal đã xâm lược Tây Tạng, song đã thất bại trong chiến tranh Nepal-Tây Tạng (1855–1856).
Ông đột ngột qua đời tại cung điện Potala, Lhasa, Tây Tạng vào ngày 31 tháng 1 năm 1856.
Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]
- ^ a b “His Holiness the Eleventh Dalai Lama, Khedrup Gyatso”. The Office of His Holiness The Dalai Lama. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
- ^ Khetsun Sangpo Rinpoche. (1982). "Life and times of the Eighth to Twelfth Dalai Lamas." The Tibet Journal. Vol. VII Nos. 1 & 2. Spring/Summer 1982, p. 50.
- ^ The Fourteen Dalai Lamas: A Sacred Legacy of Reincarnation, p. 175. Glenn H. Mullin. Clear Light Publishers. Santa Fe, New Mexico. ISBN 1-57416-092-3.
- ^ Stein, R. A. (1972) Tibetan Civilization, p. 269. Stanford University Press. ISBN 0-8047-0806-1 (cloth); ISBN 0-8047-0901-7 (pbk)
Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]
- Mullin, Glenn H. (2001). The Fourteen Dalai Lamas: A Sacred Legacy of Reincarnation, pp. 361–367. Clear Light Publishers. Santa Fe, New Mexico. ISBN 1-57416-092-3.
| Tiền nhiệm Sở-xưng Gia-mục-thố |
Đạt-lại Lạt-ma 1842–1856 Công nhận năm 1841 |
Kế nhiệm Thành-liệt Gia-mục-thố |
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Nhóm nhân vật
2 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn