Mahānāga Thera (Saketa)
1. Trưởng lão Mahānāga. Con trai của Madhuvāsettha ở Sāketa . Khi Đức Phật ở Añjanavana , Mahānāga chứng kiến phép lạ do Gavampati thực hiện và gia nhập Tăng đoàn, sau đó chứng đắc quả A-la-hán. Trong quá khứ, ngài đã tặng Đức Phật Kakusandha một quả dādima (quả lựu) (ThagA.i.442f). Một số câu thơ do ngài đọc để khiển trách những người Chabbaggiyā , vì họ không tôn trọng những người cùng tôn giáo với mình, được tìm thấy trong Theragāthā . Thag.vss.387-92.
ID:1066
Các tên gọi khác
General Information
| Roll | : | 125 |
|---|---|---|
| Academic Year | : | 2020 |
| Gender | : | Nam |
| Khởi tạo | : | 2025-11-14 16:27:08 |
| Chỉnh sửa gần nhất | : | 11/17/2025 13:21:36 |
1. Mahānāga Thera. The son of Madhuvāsettha of Sāketa. While the Buddha was at Añjanavana, Mahānāga saw the wonder wrought by Gavampati and entered the Order under him, attaining to arahantship in due course.
In the past he had given a dādima (pomegranate) fruit to Kakusandha Buddha (ThagA.i.442f).
Several verses uttered by him in admonition of the Chabbaggiyā, because of their failure to show regard for their co religionists, are found in the Theragāthā. Thag.vss.387-92.
1. Trưởng lão Mahānāga. Con trai của Madhuvāsettha ở Sāketa . Khi Đức Phật ở Añjanavana , Mahānāga chứng kiến phép lạ do Gavampati thực hiện và gia nhập Tăng đoàn, sau đó chứng đắc quả A-la-hán.
Trong quá khứ, ngài đã tặng Đức Phật Kakusandha một quả dādima (quả lựu) (ThagA.i.442f).
Một số câu thơ do ngài đọc để khiển trách những người Chabbaggiyā , vì họ không tôn trọng những người cùng tôn giáo với mình, được tìm thấy trong Theragāthā . Thag.vss.387-92.
Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 212 - Chương 6 : (CCXII ) Mahà-Nàga (Thera. 43)
(CCXII ) Mahà-Nàga (Thera. 43)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh tại Sàketa, con trai một Bà-la-môn tên Madhu Vàsettha và được đặt tên là Mahà-Nàga. Ngài thấy thần thông do Trưởng lão Gavampati thực hiện trong khi Thế Tôn sống trong rừng Anjana, và khởi lòng tin, ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của vị Trưởng lão, và chứng quả A-la-hán nhờ vị này giáo huấn.
Ngay khi ngài an trú trong an lạc giải thoát, Trưởng lão Mahà-Nàga thấy sáu Tỷ-kheo thường hay không cung kính các vị đồng Phạm hạnh, và ngài giáo huấn họ với những bài kệ như sau, những bài kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài:
387. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không có sự cung kính,
Chúng thối giảm diệu pháp
Như cá mắc nước cạn.
388. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không có sự cung kính,
Không lớn trong diệu pháp,
Như giống thối trong ruộng.
389. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không có sự cung kính,
Chúng xa rời Niết-bàn,
Trong lời dạy Pháp vương.
390. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật có sự cung kính,
Không thối giảm diệu pháp,
Như cá được nước nhiều.
391. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật có sự cung kính,
Lớn mạnh trong diệu pháp,
Như giống tốt trong ruộng.
392. Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật có sự cung kính,
Họ đến gần Niết-bàn,
Trong lời dạy Pháp vương.
.
.
Xuất hiện trong các kinh A Hàm
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn