Phạm thiên Sanankumara
Phạm thiên Sanankumara được Đức Phật nhắc đến trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 53.Kinh Hữu Học (Sekha sutta)
Dữ liệu nhân vật
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu
- #651
- Khởi tạo
- 31/08/2025
- Cập nhật gần nhất
- 18/11/2025 16:10
- Lượt xem
- 295
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
Phạm thiên Sanankumara được Đức Phật nhắc đến trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 53.Kinh Hữu Học (Sekha sutta)
Phạm thiên Sanankumara được Đức Phật nhắc đến trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 53.Kinh Hữu Học (Sekha sutta)
Theravada (major branch of Buddhism)
[«previous (S) next»] — Sanankumara in Theravada glossary
A Maha Brahma. In the Nikayas (D.i.121; M.i.358; S.i.153; A.v.327) he is mentioned as the author of a famous verse, there quoted:
Khattiyo settho jane tasmim ye gottapatisarino Vijjacaranasampanno so settho devamanuse.
In one place (S.ii.284) the verse is attributed to the Buddha, thus endowing it with the authoritativeness of a pronouncement by the Buddha himself. Sanankumara is represented as a very devout follower of the Buddha.
In a sutta of the Samyutta (S.i.153), he is spoken of as visiting the Buddha on the banks of the Sappini, and it was during this visit that the above verse was spoken. Sanankumara was present at the preaching of the Mahasamaya Sutta (D.ii.261).
In the Janavasabha Sutta, Janavasabha describes to the Buddha an occasion on which Sanankumara attended an assembly of the Devas, presided over by Sakka and the Four Regent Gods. There was suddenly a vast radiance, and the devas knew of the approach of Sanankumara. As the usual appearance of the Brahma is not sufficiently materialized for him to be perceived by the Devas of Tavatimsa, he is forced to appear as a relatively gross personality which he specially creates. As he arrives, the Devas sit in their places with clasped hands waiting for him to choose his seat. Then Sanankumara takes on the form of Pancasikha (because all devas like Pancasikha, says the Commentary, DA.ii.640) and sits, above the assembly, cross legged, in the air. So seated, he expresses his satisfaction that Sakka and all the Tavatimsa Devas should honour and follow the Buddha. His voice has all the eight characteristics of a Brahmas voice. (These are given at D.ii.211). He then proceeds to create thirty three shaper, of himself, each sitting on the divan of a Tavatimsa Deva, and addresses the Devas, speaking of the advantages of taking refuge in the Buddha, the Dhamma and the Sangha. Each deva fancies that only the shape sitting on his own divan has spoken and that the others are silent. Then Sanankumara goes to the end of the Hall, and, seated on Sakkas throne, addresses the whole assembly on the four ways of iddhi; on the three avenues leading to Bliss, as manifested by the Buddha; on the four satipatthanas, and the seven samadhiparikkhara. He declares that more than twenty four lakhs of Magadha disciples, having followed the teachings of the Buddha, have been born in the deva worlds. When Sanankumara has finished his address, Vessavana wonders if there have been Buddhas in the past and will be in the future. The Brahma reads his thoughts and says there certainly were and will be.
Sanankumara means ever young. Buddhaghosa says (MA.ii.584; cf. SA.i.171) that, in his former birth, he practised jhanas while yet a boy with his hair tied in five knots (pancaculakakumarakale), and was reborn in the Brahma world with the thana intact.
KINH HỮU HỌC
(SEKHA SUTTA)
(M.i, 353)
Thế Tôn sau khi khánh thành ngôi giảng đường của các dòng họ Thích-ca ở
Kapilavatthu, sau khi thuyết pháp khích lệ, liền bảo Tôn giả Ānanda thuyết giảng về pháp hữu
học.
Tôn giả Ānanda trình bày pháp hữu học gồm có:
1/ Thành tựu giới hạnh;
2/ Hộ trì các căn;
3/ Tiết độ trong ăn uống;
4/ Chú tâm cảnh giác;
5/ Thành tựu bảy diệu pháp;
6/ Lạc trú bốn thiền.
Rồi Tôn giả Ānanda giải thích sáu pháp hữu học này (như thường gặp trong các kinh
khác). Riêng về bảy diệu pháp, gồm có:
1/ Vị Thánh đệ tử có lòng tin vào sự giác ngộ của Như Lai;
2/ Có lòng tàm;
3/ Có lòng quý;
4/ Đa văn;
5/ Tinh cần tinh tấn;
6/ Có niệm, đầy đủ tối thắng niệm;
7/ Có trí tuệ.
Tôn giả Ānanda kết luận, nếu vị Thánh đệ tử thành tựu sáu pháp hữu học này, thời vị
này đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại, có khả năng phá vỡ, có khả
năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Như những cái
trứng gà, nếu con gà mẹ khéo ấp nằm, ấp nóng, ấp dưỡng thời các con gà con đủ sức mạnh
phá vỏ trứng mà ra ngoài, cho dù con gà mẹ không cầu mong gì. Khi đã chứng được xả niệm
thanh tịnh rồi, vị Thánh đệ tử hướng tâm về túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh,
với sự đoạn tận các lậu hoặc, được tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đây là sự phá vỡ thứ ba của
con gà con ra khỏi trứng. Rồi Tôn giả phân loại thành tựu giới hạnh, chế ngự các căn, biết tiết
độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, tu tập bốn thiền thuộc về hạnh đức. Còn tu tập ba minh,
thuộc trí đức của vị ấy, và như vậy vị Thánh đệ tử có minh hạnh cụ túc.
Sau khi Tôn giả Ānanda thuyết giảng, Thế Tôn xác nhận Tôn giả đã thuyết giảng đúng
chánh pháp.
.
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Mạng liên kết nội dung
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Kinh & bài có nhân vật
4 mụcCác bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.
Nhóm nhân vật
1 mụcMở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.
Nhân vật thường xuất hiện cùng
12 mụcTính từ bài chung và địa danh chung ở backend.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn