Subhā Kammāradhītā Con Người Thợ Vàng -Therì
2. Subhā Kammāradhītā. Bà là con gái của một người thợ kim hoàn giàu có ở Rājagaha. Một ngày nọ, bà đến đảnh lễ Đức Phật và được Ngài thuyết pháp. Bà đắc quả Dự Lưu, và sau đó gia nhập Tăng đoàn dưới sự chỉ đạo của Mahā Pajāpatī. Thỉnh thoảng, người thân của bà cố gắng thuyết phục bà rời khỏi Tăng đoàn và trở về thế gian. Một ngày nọ, bà trình bày, trong hai mươi bốn bài kệ, những nguy hiểm của đời sống gia đình và từ bỏ chúng, tin chắc vào sự đúng đắn của mình. Sau đó, nỗ lực tu tập tuệ giác, bà đạt được quả vị A-la-hán vào ngày thứ tám (Thig.vs.338-61). Đức Phật thấy vậy và khen ngợi bà bằng ba bài kệ (Thig.vs.362-4). Sakka đến thăm bà cùng với các vị thần ở Tāvatimsa và đọc một bài kệ khác để khen ngợi bà. ThigA.365; ThigA.236f.
ID:909
Các tên gọi khác
General Information
| Roll | : | 125 |
|---|---|---|
| Academic Year | : | 2020 |
| Gender | : | Nam |
| Khởi tạo | : | 2025-11-11 19:37:07 |
| Chỉnh sửa gần nhất | : | 11/17/2025 17:50:34 |
(LXX) Subhà, Con Người Thợ Vàng (Therì. 156)
2. Subhā Kammāradhītā. She was the daughter of a rich goldsmith of Rājagaha. One day she went to pay obeisance to the Buddha and he preached to her. She became a sotāpanna, and later she joined the Order under Mahā Pajāpatī. From time to time her relations tried to persuade her to leave the Order and return to the world. One day she set forth, in twenty four verses, the dangers of household life and dismissed them, convinced of her rightness. Then, striving for insight, she attained arahantship on the eighth day (Thig.vs.338-61). The Buddha saw this and praised her in three verses (Thig.vs.362-4). Sakka visited her with the gods of Tāvatimsa and uttered another verse in her praise. ThigA.365; ThigA.236f.
2. Subhā Kammāradhītā. Bà là con gái của một người thợ kim hoàn giàu có ở Rājagaha. Một ngày nọ, bà đến đảnh lễ Đức Phật và được Ngài thuyết pháp. Bà đắc quả Dự Lưu, và sau đó gia nhập Tăng đoàn dưới sự chỉ đạo của Mahā Pajāpatī. Thỉnh thoảng, người thân của bà cố gắng thuyết phục bà rời khỏi Tăng đoàn và trở về thế gian. Một ngày nọ, bà trình bày, trong hai mươi bốn bài kệ, những nguy hiểm của đời sống gia đình và từ bỏ chúng, tin chắc vào sự đúng đắn của mình. Sau đó, nỗ lực tu tập tuệ giác, bà đạt được quả vị A-la-hán vào ngày thứ tám (Thig.vs.338-61). Đức Phật thấy vậy và khen ngợi bà bằng ba bài kệ (Thig.vs.362-4). Sakka đến thăm bà cùng với các vị thần ở Tāvatimsa và đọc một bài kệ khác để khen ngợi bà. ThigA.365; ThigA.236f.
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), con gái một người thợ vàng. Vì nàng rất đẹp, nên được gọi là Subhà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở tại Ràjagaha, nàng đến yết kiến Ngài, khởi lòng tin tưởng, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Bậc Ðạo Sư biết được căn cơ tâm tư thuần thục của nàng, tùy theo ý nguyện của nàng, Ngài thuyết pháp cho nàng về ly Bốn sự thật và nàng chứng được quả Dự lưu. Về sau, nàng nhận thấy sự khó khăn sống trong gia đình, xin xuất gia dưới sự hướng dẫn của bà Mahàpajàpati Gotamì, hướng tâm đến con đường siêu thoát. Thỉnh thoảng, các bà con của nàng mời nàng trở lại với đời, nói lên sự hấp dẫn của đời. Một hôm nàng thuyết pháp cho bà con của nàng, nói lên những nguy hiểm của đời sống cư sĩ, và ở đời thuyết pháp cho họ với hai mươi bốn bài kệ như sau và chữa cho họ thoát khỏi bệnh tham vọng. Rồi nàng phát triển thiền quán, gột sạch các căn cuối cùng nàng chứng được quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, nàng nói như sau:
338. Ta trước mặc áo trắng,
Ðược nghe giảng Chánh pháp,
Do ta không phóng dật,
Chứng tri được chân lý.
339. Nhờ vậy đối mọi dục,
Không còn tham muốn lớn,
Thấy sợ hãi thân kiến,
Ta mong muốn viễn ly.
340. Ta bỏ chúng bà con,
Bỏ lao công, nô tỳ,
Làng ruộng đất phì nhiêu,
Khiến người thích hân hoan,
Từ bỏ, ta xuất gia,
Gia sản đâu có ít.
341. Nhờ diệu pháp khéo thuyết,
Ra đi, với lòng tin,
Ta không thể hy cầu
Vật gì thuận gia sản
Vàng bạc ta đã bỏ,
Sao lại đi đến chúng?
342. Vàng bạc không giác ngộ,
Không làm người an tịnh,
Không hợp hạnh Sa-môn,
Không phải tài sản thánh.
343. Chính vàng hay bạc này
Làm tham ái, đắm say,
Làm con người ngu si,
Làm tăng trưởng bụi trần,
Nguy hiểm nhiều ưu não,
Ðây, không gì trường cửu.
344. Ðây, loài Người tham đắm,
Phóng dật, tâm uế nhiễm,
Chống đối thù địch nhau
Rộng đường đấu tranh nhau.
345. Giết hại, trói, tra tấn,
Hao tài sầu, ưu tư
Những ai chìm trong dục,
Gặp phải nhiều tai họa.
346. Vì sao bà con ta
Giống như kẻ thù ta,
Lại trói buộc ta vào,
Trong vòng các dục lạc,
Hãy biết ta xuất gia,
Vì thấy dục đáng sợ.
347. Bạc, vàng không có thể
Ðoạn được các lậu hoặc,
Các dục là thù địch,
Sát nhân, chuyên giết hại,
Chúng là kẻ oán thù,
Là mũi tên, dây trói.
348. Vì sao bà con ta
Giống như kẻ thù ta,
Lại trói buộc ta vào
Trong vòng các dục lạc,
Hãy biết ta xuất gia,
Cạo tóc đắp đại y.
349. Nuôi sống bằng đồ ăn,
Tích lũy nhờ khất thực,
Y áo được tác thành
Với miếng vải lượm lặt
Sống vậy, thích hợp ta,
Cơ bản, sống không nhà.
350. Dục đại sĩ từ bỏ
Dục loài Trời, loài Người,
Trú an ổn, giải thoát
Không dao động an lạc.
351. Chớ để ta đến dục,
Trong dục, không an toàn,
Dục, thù địch sát nhân
Gây khổ, dụ đống lửa.
352. Ðường hiểm, đầy sợ hãi,
Ðầy khổ hoạn, gai góc,
Tham ái đường gập ghềnh,
Hoang si mê rộng lớn.
353. Tai họa đầy hãi hùng,
Các dục dụ đầu rắn,
Kẻ ngu thích thú dục,
Kẻ mù lòa phàm phu.
354. Chúng sanh chìm bùn đục,
Những kẻ không thấy đời,
Họ không có rõ biết,
Sự chấm dứt sanh tử.
355. Loài Người vì nhân dục,
Con đường đến ác thú,
Phần nhiều đi đường ấy,
Khiến tự ngã bệnh hoạn.
356. Như vậy dục sanh thù,
Nung nấu, làm uế nhiễm,
Dục thuộc về thể vật,
Trói người vào tử vong.
357. Dục làm cho diên cuồng,
Loạn ngôn tâm thác loạn,
Làm uế nhiễm chúng sanh,
Sắp rơi bẫy Ác ma.
358. Dục nguy hiểm không cùng,
Nhiều khổ, thuốc độc lớn,
Ngọt ít, tạo đấu tranh,
Héo tàn ngày tươi sáng.
359. Ta quyết định như vậy,
Không trở lui dục nhân,
Tác thành điều bất hạnh,
Luôn vui hưởng Niết-bàn.
360. Quyết đấu tranh với dục,
Chờ đợi, mát, lắng dịu,
Sẽ sống không phóng dật,
Ðoạn diệt kiết sử dục.
361. Ta đi theo đường ấy
Ðường đại sĩ đi qua,
Không sầu, không cấu uế,
An ổn, thẳng, Tám ngành.
362. Hãy xem Subhà này,
An trú trên Chánh pháp,
Con gái một thợ vàng,
Ðạt được không tham dục,
Ngồi hành trì thiền định,
Ở dưới một gốc cây.
363. Hôm nay, ngày mồng tám
Từ khi nàng xuất gia,
Với lòng đầy tin tưởng,
Sáng chói chân Diệu pháp,
Up-pa-la-van-na,
Huấn luyện giảng dạy nàng,
Nàng chứng được Ba minh,
Vượt qua được thần chết.
364. Nàng tự mình giải thoát,
Không còn có nợ nần.
Là vị Tỷ-kheo-ni,
Các căn được tu tập,
Ly hệ mọi khổ ách,
Việc cần làm làm xong,
Ðối với các lậu hoặc,
Nàng đoạn diệt hoàn toàn.
365. Sakka đến với nàng,
Cùng với chúng chư Thiên,
Với thần thông diệu dụng,
Chúng đảnh lễ Subhà,
Nàng chỉ là con gái,
Con một người thợ vàng,
Nhưng nay là hội chủ,
Của mọi loài chúng sanh.
Vào ngày thứ tám, khi nàng đã thọ giới, nàng chứng quả A-la-hán. Thế Tôn ngồi dưới một cành cây, nói lên bài kệ (362-364) để tán dương nàng và chỉ nàng cho các Tỷ-kheo biết. Câu kệ cuối cùng do các Tỷ-kheo thêm vào để tán dương Sakka đã đến đảnh lễ nàng.
.
.Xuất hiện trong các kinh A Hàm
Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn