Tôn giả Magandiya
Một Paribbājaka. Đức Phật từng ngự tại am lửa của Bà-la-môn Bhāradvājaggotta ở Kammāsadamma và Māgandiya đến am. Thấy tấm thảm cỏ mà Đức Phật ngủ ban đêm, ông hỏi đó là của ai, và khi được biết, ông rất bực mình, gọi Đức Phật là một người theo chủ nghĩa áp bức cứng nhắc (bhunahu). Bhāradvāja phản đối, Māgandiya bèn đề nghị nhắc lại lời buộc tội của mình trước mặt Đức Phật. Biết được cuộc trò chuyện này, Đức Phật đã vào am vào buổi tối và trò chuyện với Māgandiya, người cuối cùng đã gia nhập Tăng đoàn, sau này trở thành một vị A-la-hán. Mi502ff.; Mil.313.
ID:666
Các tên gọi khác
General Information
| Roll | : | 125 |
|---|---|---|
| Academic Year | : | 2020 |
| Gender | : | Nam |
| Khởi tạo | : | 2025-08-31 18:17:04 |
| Chỉnh sửa gần nhất | : | 11/18/2025 15:10:23 |
Xuất hiện trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 75.Kinh Māgandiya (Māgandiya sutta)
Số 2
2. Māgandiya. Một Paribbājaka. Đức Phật từng ngự tại am lửa của Bà-la-môn Bhāradvājaggotta ở Kammāsadamma và Māgandiya đến am. Thấy tấm thảm cỏ mà Đức Phật ngủ ban đêm, ông hỏi đó là của ai, và khi được biết, ông rất bực mình, gọi Đức Phật là một người theo chủ nghĩa áp bức cứng nhắc (bhunahu). Bhāradvāja phản đối, Māgandiya bèn đề nghị nhắc lại lời buộc tội của mình trước mặt Đức Phật. Biết được cuộc trò chuyện này, Đức Phật đã vào am vào buổi tối và trò chuyện với Māgandiya, người cuối cùng đã gia nhập Tăng đoàn, sau này trở thành một vị A-la-hán. Mi502ff.; Mil.313.
Buddhaghosa giải thích (MA.ii.681) rằng Māgandiya này là cháu trai của Māgandiya (1).
-
Māgandiya
1. Māgandiya. A brahmin of the Kuru country. He had a very beautiful daughter, called Māgandiyā. Many men of high station sought her hand, but the brahmin did not consider them worthy. The Buddha, one day, became aware that both Māgandiya and his wife were ready for conversion, so he visited their village. Māgandiya saw him, and, noting the auspicious marks on his body, told him of his daughter and begged him to wait till she could be brought. The Buddha said nothing, and Māgandiya went home and returned with his wife and daughter arrayed in all splendours. On arriving, they found the Buddha had gone, but his footprint was visible, and Māgandiya's wife, skilled in such matters, said that the owner of such a footprint was free from all passion. But Māgandiya paid no attention, and, going a little way, saw the Buddha and offered him his daughter. The Buddha thereupon told them of his past life, his renunciation of the world, his conquest of Māra, and the unsuccessful attempts of Māra's very beautiful daughters to tempt him. Compared with them, Māgandiya was, he said, a corpse, filled with thirty two impurities, an impure vessel painted without; he would not touch her with his foot. At the end of the discourse, Māgandiya and his wife became anāgāmins. DhA.iii.193ff.; SNA.ii.542f.; cp. Dvy.515ff., where the name is given as Mākandika and he is called a parivrājaka. The daughter's name is given as Anūpamā and the wife's Sākalī.
It is said that they gave their daughter into the charge of her uncle, Culla Māgandiya, retired from the world, and became arahants. DhA.i.202
According to the Anguttara Commentary (AA.i.235f), Māgandiya's village was Kammāsadamma, and the Buddha went there on his journey to Kosambī at the invitation of Ghosita, Kukkuta and Pāvārika. He turned off the main road to visit Māgandiya.
See also Māgandiya (2), Māgandiya Sutta, and Māgandiyapañha.
NỘI DUNG KINH MÀGANDIYA
1. Khi Thế Tôn trú tại thị trấn Kammasadhamma, tại nhà thờ lửa của Bà-la-môn Bharadvàja, du sĩ Màgandiya yết kiến Thế Tôn và nói với Bà-la-môn Bharadvàja rằng:”Tôn giả Gotama là vị phá hoại sự sống” – do vì Thế Tôn chủ trương đoạn trừ tham dục sinh khởi từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
Thế Tôn với thiên nhĩ nghe được điều đó và hỏi Màgandiya rằng:” Một người hộ trì mắt, tai… như thế, đoạn trừ khát ái, nội tâm được an tịnh, ông nghĩ gì về người nầy.”
– Màgandiya đáp;” Không có gì, tôn giả Gotama “. Thế là trong phút chốc Màgandiya tự động rời khỏi điều đã kết án Thế Tôn.
2. Rồi Thế Tôn tiếp phân tích cho Màgandiya thấy rõ dục vọng ở đời là thấp kém, nguy hiểm, đang nhai nghiến, thiêu đốt con người, những gì mà Thế Tôn lúc còn là Thái tử đã có đầy đủ và đã từ bỏ để xuất gia được sống trong lạc giải thoát. Thế Tôn dạy:
” Không bệnh, lợi tối thắng,
Niết bàn, lạc tối thắng,
Bát chánh là độc đạo,
An ổn là bất tử.”
3. Cần thân cận chân nhân, nghe diệu pháp, sống đúng chánh pháp và tùy pháp thì sẽ tự mình biết, tự mình thấy: Dục là bệnh chướng, dục là cục bướu, dục là mũi tên; và do đoạn diệt tham ái, chấp thủ, nên Hữu diệt; do Hữu diệt nên Sanh diệt; do Sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn.
4. Nghe và hiểu, Màgandiya xin xuất gia và thọ đại giới. Tinh cần thực hiện độc cư, thực hành phạm hạnh và không bao lâu Màgandiya đắc A-la-hán quả.
.Xuất hiện trong các kinh A Hàm
Trung A Hàm 153. Kinh Man-nhàn-đề Vai trò : Người nghe
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn