Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Visàkha (Con Của Pancàlì) Thera
Nhân vật Phật học

Visàkha (Con Của Pancàlì) Thera

2. Visākha. Tên là Pañcāliputta. Ngài là con trai của một quan trấn thủ (mandalikarājā) xứ Magadha, và được gọi là Pañcāliputta vì mẹ ngài là con gái của vua Pañcāla. (AA.ii.511 gọi ngài là con trai của Pañcālibrāhmanī). Ngài kế vị cha mình, và một ngày nọ, nghe tin Đức Phật đã đến gần làng của mình, ngài đến thăm, nghe Ngài thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn...

198 lượt xem #1057 mã dữ liệu Nam giới tính 14.11.2025 ngày khởi tạo 11.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#1057
Khởi tạo
14/11/2025
Cập nhật gần nhất
17/11/2025 14:11
Lượt xem
198
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

2. Visākha. Tên là Pañcāliputta. Ngài là con trai của một quan trấn thủ (mandalikarājā) xứ Magadha, và được gọi là Pañcāliputta vì mẹ ngài là con gái của vua Pañcāla. (AA.ii.511 gọi ngài là con trai của Pañcālibrāhmanī). Ngài kế vị cha mình, và một ngày nọ, nghe tin Đức Phật đã đến gần làng của mình, ngài đến thăm, nghe Ngài thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn. Sau đó, ngài theo Đức Phật đến Sāvatthi, nơi ngài đắc quả A-la-hán. Sau đó, vì lòng từ bi, ngài đã đến thăm họ hàng của Đức Phật.

HỒ SƠ Visàkha (Con Của Pancàlì) Thera

2. Visākha. Called Pañcāliputta. He was son of a provincial governor (mandalikarājā) of Magadha, and was called Pañcāliputta because his mother was the daughter of the Pañcāla king. (AA.ii.511 calls him the son of Pañcālibrāhmanī). He succeeded his father, and, hearing one day that the Buddha had arrived near his village, he visited him, heard him preach and joined the Order. He then accompanied the Buddha to Sāvatthi, where he became an arahant. Later, out of compassion, he visited his relations.

One day he was asked how many qualities were necessary to a man in order that he should be considered a skilful preacher of the Dhamma. Visākha's answer is included in the Theragāthā (Thag. vs. 209 10; ThagA.i.331f).

Fourteen kappas ago he was a poor householder, and one day, while searching in the forest for fruit, he saw a Pacceka Buddha and offered him a vallī fruit. He is evidently to be identified with Valliphaladāyaka of the Apadāna (Ap.i.296).

Visākha was evidently a clever and arresting preacher, and the books mention that the Buddha heard him preach and praised him. S.ii.280; A.ii.51.

 

2. Visākha. Tên là Pañcāliputta. Ngài là con trai của một quan trấn thủ (mandalikarājā) xứ Magadha, và được gọi là Pañcāliputta vì mẹ ngài là con gái của vua Pañcāla. (AA.ii.511 gọi ngài là con trai của Pañcālibrāhmanī). Ngài kế vị cha mình, và một ngày nọ, nghe tin Đức Phật đã đến gần làng của mình, ngài đến thăm, nghe Ngài thuyết pháp và gia nhập Tăng đoàn. Sau đó, ngài theo Đức Phật đến Sāvatthi, nơi ngài đắc quả A-la-hán. Sau đó, vì lòng từ bi, ngài đã đến thăm họ hàng của Đức Phật.

Một hôm, có người hỏi ngài cần bao nhiêu phẩm chất để được xem là một nhà thuyết pháp tài giỏi. Câu trả lời của Visākha được ghi lại trong Theragāthā (Thag. vs. 209 10; ThagA.i.331f).

Mười bốn kiếp trước, ngài là một gia chủ nghèo khó, và một ngày nọ, khi đang tìm trái cây trong rừng, ngài nhìn thấy một vị Phật Độc Giác và dâng lên ngài một quả vallī. Ngài rõ ràng được đồng nhất với Valliphaladāyaka trong Apadāna (Ap.i.296).

Visākha rõ ràng là một nhà thuyết giáo thông minh và lôi cuốn, và các sách đề cập rằng Đức Phật đã nghe ông thuyết giảng và khen ngợi ông. S.ii.280; A.ii.51.

 

 

(CLXV) Visàkha, Con Của Pancàlì (Thera. 27)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), con một vị vua địa phương, được đặt tên là Visàkha. Vì ngài là con trai một công chúa con vua, về sau ngài được biết là con trai của Pancàlì.

Sau khi phụ vương mất, ngài nối ngôi vua, nhưng khi bậc Ðạo Sư đến gần chỗ ngài ở, ngài đến nghe đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin rồi xuất gia. Theo bậc Ðạo Sư đến Sàvatthi (Xá-vệ), ngài phát triển thiền quán, chứng được sáu thắng trí.

Với lòng từ mẫn nghĩ đến bà con, ngài viếng thăm quê hương cũ, dân chúng đến nghe ngài thuyết giảng rất đông. Một hôm có người hỏi: ‘Có bao nhiêu đức tánh cần thiết để một người trở thành nhà thuyết pháp?’. Ngài trả lời đại cương những đức tánh trong những bài kệ sau đây:

209. Chớ có tự kiêu mạn,

Chớ có khinh khi người,

Không khinh, không hại người,

Ðã đến bờ bên kia,

Và chớ có khen mình,

Trước mặt các hội chúng,

Không dao động, khiêm tốn,

Khéo nói, khéo chế ngự.

210. Với người, thấy ý nghĩa,

Tế nhị và kín đáo,

Thiện xảo về trí tuệ

Nếp sống khéo hộ trì,

Thực hiện giới chư Phật,

Niết-bàn đối vị ấy,

Không gì khó chứng đạt.

.

 

.

A HÀM

Xuất hiện trong các kinh A Hàm

Xem dạng thẻ →
Chưa có dữ liệu A Hàm liên kết.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

2liên kết

Kinh & bài có nhân vật

1 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.