Chuyện tiền thân Đức Phật P010 : CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI (Tiền thân Sukhavihàri)
Khi Đức Phật đang trú tại rừng xoài Anupiya, các Tỳ-kheo nghe Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihāri thường thốt lên: “Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!” Trước khi xuất gia, Bhaddiya từng là một vị vua. Khi còn trị vì, ông sống giữa cung điện cao sang, có quân lính cầm vũ khí bảo vệ ngày đêm. Dù được canh phòng nghiêm ngặt, ông vẫn luôn lo sợ, bất an, đêm nằm không yên. Sau khi xuất gia và chứng quả A-la-hán, Bhaddiya có thể một mình đi lại, nghỉ ngơi trong rừng sâu mà không còn sợ hãi. Khi nhớ lại sự khác biệt giữa đời sống làm vua và đời sống giải thoát hiện tại, ông sung sướng nói lên lời cảm hứng ấy. Các Tỳ-kheo tưởng rằng Bhaddiya đang công khai tuyên bố sự chứng đắc của mình nên đem sự việc trình lên Đức Phật. Đức Phật giải thích rằng Bhaddiya không chỉ trong hiện tại mới cảm nhận được niềm hạnh phúc của đời sống xuất gia; trong một đời quá khứ, vị ấy cũng từng từ bỏ ngai vàng và sống trong niềm an lạc như vậy.
ID:591
Các tên gọi khác
General Information
Ngày khởi tạo : 2023-11-12 18:48:23
Edit time : 07/23/2026 11:51:08 - Số lần chỉnh sửa : 3
| Danh sách | : | Liên quan |
|---|---|---|
| : |
1454.005_ch-01-p-apannaka-chuyen-08-09-10
Duyên khởi:Câu chuyện này, khi ở tại rừng xoài Anupiya, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihàri.
Đức Phật là : vị bổn sư
Nhóm tiền thân :vị đệ tử là Tôn giả Bhaddiya, còn vị bổn sư chính là Ta đây.
Mục lục, bài liên quan & media
Chuyện tiền thân Đức Phật P010 : CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI (Tiền thân Sukhavihàri)
10. CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI (Tiền thân Sukhavihàri)
Người không được bảo vệ…,
Câu chuyện này, khi ở tại rừng xoài Anupiya, bậc Ðạo Sư đã kể về Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihàri. Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihàri đã xuất gia cùng với sáu vị trong hoàng tộc, cùng Upali là người thứ bảy. Trưởng lão Bhaddiya, trưởng lão Kimbila, Trưởng lão Bhagu và Trưởng lão Upàli chứng quả A-la-hán, Trưởng lão Ànanda chứng quả Dự Lưu, Trưởng lão Anuruddha chứng được thiên nhãn, Trưởng lão Ðề-bà-đạt-đa chứng được thiền định. Câu chuyện của sáu vị trong hoàng tộc này dẫn đến sự kiện ở Anupiya, sẽ được trình bày trong Tiền thân Khandahàla (số 534).
Trong thời kỳ làm vua, Tôn giả Bhaddiya tự bảo vệ mình như một vị Thiên sắp đặt sự bảo vệ, nay nghĩ đến tâm trạng sợ hãi mà vị ấy đã sống, dầu được bảo vệ với nhiều sự bảo vệ, vẫn nằm lăn qua trở lại trên đại sàng tọa đặt trên lầu cao. Vị ấy so sánh sự sợ hãi ấy với trạng thái không sợ hãi, vì nay vị ấy đã chứng quả A-la-hán, khi vị ấy đi lang thang đây đó trong các khu rừng v.v… Khi nghĩ vậy, vị ấy nói lên lời cảm hứng:
– Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!
Các Tỷ-kheo nghĩ rằng Tôn giả Bhaddiya nói lên chánh trí của mình, nên trình lên Thế Tôn. Thế Tôn nói:
– Này các Tỷ-kheo, Bhaddiya không phải chỉ nay mới sống hạnh phúc, mà thuở trước vị ấy cũng đã sống hạnh phúc!
Các Tỷ-kheo thỉnh thoảng cầu Thế Tôn trình bày rõ ý nghĩa này. Thế Tôn làm sáng tỏ ý nghĩa qua câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, ở Ba-la-nại, trong khi vua Brahmadatta đang trị vì vương quốc, Bồ-tát sinh làm một vị Bà-la-môn giàu có ở phương Bắc. Thấy nguy hiểm trong các dục, lợi ích trong xuất ly, ngài từ bỏ các dục, vào núi Tuyết xuất gia làm ẩn sĩ, đạt được tám Thiền chứng. Số tùy tùng của ngài lên đến năm trăm vị khổ hạnh.
Khi mùa mưa đến, ngài rời núi Tuyết với chúng khổ hạnh vây quanh đi bộ qua làng, qua thị trấn, đến Ba-la-nại, ngài trú ở ngôi vườn của vua, nương tựa nhà vua. Tại đấy, sau khi sống bốn tháng trong mùa mưa, ngài đến từ biệt nhà vua. Nhà vua nói:
– Thưa Tôn giả, Tôn giả đã lớn tuổi, Tôn giả sống ở núi Tuyết làm gì? Hãy để các đệ tử đến núi Tuyết, còn Tôn giả ở lại đây.
Bồ-tát giao năm trăm người khổ hạnh cho đệ tử trưởng và nói:
– Con hãy đi, sống ở núi Tuyết với những người này. Còn ta sẽ sống ở đây.
Vị đệ tử trưởng ấy, trước kia làm vua, sau tử bỏ vương quốc lớn, xuất gia, lấy đề tài làm Thiền quán, chứng được tám Thiền chứng. Vị ấy sống ở núi Tuyết với các vị khổ hạnh.
Một hôm, muốn yết kiến bổn sư, vị ấy gọi các vị khổ hạnh kia và bảo:
– Hãy sống thoải mái ở đây, ta đi đảnh lễ bổn sư rồi lại về.
Vị ấy đi đến bổn sư, đảnh lễ ngài, chào mừng ngài rất chân tình, rồi trải tấm thảm, nằm xuống bên cạnh bổn sư. Lúc bấy giờ, nhà vua đi đến ngôi vườn để yết kiến vị khổ hạnh, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên. Vị đệ tử khổ hạnh thấy vua đến, nhưng không đứng dậy, vẫn nằm dài và nói lời cảm hứng:
– Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!
Nhà vua không hoan hỷ với vị khổ hạnh thấy vua mà không đứng dậy, nên nói với Bồ-tát.
– Thưa Tôn giả, người khổ hạnh này có lẽ đã ăn quá đầy đủ nên nằm sung sướng, nói lên lời cảm hứng.
– Thưa Ðại Vương, người khổ hạnh này trước cũng làm vua như ngài. Vị ấy suy nghĩ: “Trước kia còn là cư sĩ, đầy đủ uy quyền nhà vua, được bảo vệ bởi nhiều người có binh khí cầm tay, nhưng không được hạnh phúc như thế này. Nay do tự mình được hạnh phúc xuất gia, được hạnh phúc thiền định, nên nói lên lời cảm hứng như vậy”.
Ðể giảng pháp thoại cho nhà vua, Bồ-tát đọc bài kệ này:
Người không được bảo vệ,
Không bảo vệ người khác,
Thưa Ðại Vương, người ấy.
Thật sự được an lạc.
Vì không chờ đợi gì,
Ðối với các dục vọng.
Nhà vua nghe pháp thoại xong, cảm thấy thoải mái, đảnh lễ, rồi đi về cung. Vị đệ tử đảnh lễ bổn sư, rồi đi về núi Tuyết. Bồ-tát tiếp tục sống tại đấy, thiền định không gián đoạn và khi mạng chung, sanh lên Phạm thiên giới.
*
Bậc Ðạo sư, kể lại hai câu chuyện, kết hợp chúng với nhau rồi nhận diện Tiền thân:
– Lúc ấy, vị đệ tử là Tôn giả Bhaddiya, còn vị bổn sư chính là Ta đây.
10. CHUYỆN TRƯỞNG LÃO SUKHAVIHÀRI
Tiền thân Sukhavihāri
Hoàn cảnh Đức Phật kể chuyện
Khi Đức Phật đang trú tại rừng xoài Anupiya, các Tỳ-kheo nghe Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihāri thường thốt lên:
“Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!”
Trước khi xuất gia, Bhaddiya từng là một vị vua. Khi còn trị vì, ông sống giữa cung điện cao sang, có quân lính cầm vũ khí bảo vệ ngày đêm. Dù được canh phòng nghiêm ngặt, ông vẫn luôn lo sợ, bất an, đêm nằm không yên.
Sau khi xuất gia và chứng quả A-la-hán, Bhaddiya có thể một mình đi lại, nghỉ ngơi trong rừng sâu mà không còn sợ hãi. Khi nhớ lại sự khác biệt giữa đời sống làm vua và đời sống giải thoát hiện tại, ông sung sướng nói lên lời cảm hứng ấy.
Các Tỳ-kheo tưởng rằng Bhaddiya đang công khai tuyên bố sự chứng đắc của mình nên đem sự việc trình lên Đức Phật. Đức Phật giải thích rằng Bhaddiya không chỉ trong hiện tại mới cảm nhận được niềm hạnh phúc của đời sống xuất gia; trong một đời quá khứ, vị ấy cũng từng từ bỏ ngai vàng và sống trong niềm an lạc như vậy.
Câu chuyện tiền thân
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì thành Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn giàu có ở phương Bắc.
Nhận thấy sự nguy hiểm của dục vọng và lợi ích của đời sống xuất ly, Bồ-tát từ bỏ tài sản, vào núi Tuyết xuất gia làm ẩn sĩ. Nhờ tinh tấn tu tập, ngài chứng được tám tầng Thiền định và trở thành vị thầy của năm trăm người khổ hạnh.
Khi mùa mưa đến, Bồ-tát cùng các đệ tử rời núi Tuyết, đi qua nhiều làng mạc và thị trấn rồi đến thành Ba-la-nại. Được nhà vua bảo trợ, các vị khổ hạnh cư trú trong khu vườn hoàng gia suốt bốn tháng mùa mưa.
Sau mùa an cư, Bồ-tát đến từ biệt nhà vua để trở về núi Tuyết. Thấy ngài đã lớn tuổi, nhà vua thỉnh cầu:
“Xin Tôn giả ở lại đây. Hãy để các đệ tử trở về núi Tuyết, còn Tôn giả nên sống trong khu vườn này.”
Bồ-tát chấp thuận. Ngài giao năm trăm vị khổ hạnh cho người đệ tử trưởng dẫn về núi Tuyết, còn mình ở lại Ba-la-nại.
Người đệ tử từng làm vua
Vị đệ tử trưởng trước kia cũng từng là một vị vua có quyền lực lớn. Sau khi nhận thấy sự nguy hiểm của dục lạc, vị ấy từ bỏ ngai vàng, xuất gia và chứng được tám tầng Thiền định.
Một hôm, vị đệ tử muốn trở lại Ba-la-nại để thăm bổn sư. Vị ấy dặn các khổ hạnh tiếp tục sống yên ổn trên núi Tuyết rồi một mình lên đường.
Đến khu vườn của nhà vua, vị ấy đảnh lễ Bồ-tát, trò chuyện thân mật, sau đó trải một tấm thảm và nằm nghỉ bên cạnh thầy.
Đúng lúc ấy, vua Ba-la-nại đến thăm Bồ-tát. Nhà vua đảnh lễ vị đạo sĩ rồi ngồi xuống một bên.
Người đệ tử nhìn thấy nhà vua nhưng không đứng lên chào, vẫn nằm thư thái và nói:
“Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!”
Nhà vua không hài lòng. Ông cho rằng vị khổ hạnh này đã ăn uống quá đầy đủ nên trở nên lười biếng, nằm trước mặt vua mà vẫn than lên rằng mình sung sướng.
Nhà vua nói với Bồ-tát:
“Thưa Tôn giả, có lẽ người khổ hạnh này vừa được ăn no nên nằm sung sướng và thốt lên những lời như vậy.”
Bồ-tát giải thích niềm hạnh phúc chân thật
Bồ-tát giải thích rằng vị khổ hạnh ấy trước kia cũng từng làm vua.
Khi còn sống trong hoàng cung, dù có đầy đủ quyền lực và luôn được binh lính cầm vũ khí bảo vệ, vị ấy vẫn không có được sự an ổn thật sự. Vị ấy luôn phải lo sợ kẻ thù, sự phản loạn, mất ngai vàng và những nguy hiểm có thể xảy ra.
Sau khi từ bỏ vương quyền, sống đời xuất gia và chứng đạt Thiền định, vị ấy không còn tài sản để gìn giữ, không có địa vị để mất, cũng không phải đề phòng hay kiểm soát người khác.
Vì đã buông bỏ dục vọng và mọi sự mong cầu, vị ấy cảm nhận được niềm hạnh phúc sâu sắc. Do đó, tiếng nói “Ôi hạnh phúc thay!” không xuất phát từ sự hưởng thụ vật chất, mà từ sự tự do, thanh thản và không sợ hãi.
Bài kệ của Bồ-tát
Để giảng giải cho nhà vua, Bồ-tát đọc bài kệ:
Người không được bảo vệ,
Không bảo vệ người khác,
Thưa Đại Vương, người ấy
Thật sự được an lạc.
Vì không chờ đợi gì
Đối với các dục vọng.
Ý nghĩa bài kệ là người không cần người khác bảo vệ mình và cũng không phải canh giữ, kiểm soát hay bảo vệ quyền lực của mình mới có thể sống thật sự an ổn.
Khi không còn mong cầu các dục lạc, con người không còn sợ mất mát. Sự không sở hữu và không chấp thủ đem lại niềm an lạc lớn hơn sự an toàn dựa vào quân đội, vũ khí hay quyền thế.
Nghe pháp thoại, nhà vua hiểu được ý nghĩa của hạnh xuất ly, tâm trở nên nhẹ nhàng và hoan hỷ. Ông đảnh lễ Bồ-tát rồi trở về cung.
Người đệ tử cũng đảnh lễ bổn sư và trở lại núi Tuyết. Bồ-tát tiếp tục sống trong Thiền định không gián đoạn. Sau khi mạng chung, ngài sinh lên cõi Phạm thiên.
Nhận diện tiền thân
Sau khi kể xong, Đức Phật nhận diện các nhân vật:
-
Người đệ tử từng làm vua chính là Trưởng lão Bhaddiya Sukhavihāri.
-
Vị bổn sư của năm trăm người khổ hạnh chính là tiền thân của Đức Phật.
Ý nghĩa giáo pháp
Câu chuyện cho thấy quyền lực và sự bảo vệ bên ngoài không thể đem lại cảm giác an toàn tuyệt đối. Một vị vua có quân đội vây quanh vẫn có thể sống trong lo sợ, bởi càng có nhiều tài sản và địa vị, con người càng sợ mất chúng.
Ngược lại, người đã buông bỏ sự sở hữu, ham muốn và chấp thủ không còn phải phòng thủ trước thế gian. Niềm an lạc của người xuất gia không đến từ tiện nghi vật chất mà từ nội tâm không còn bị tham ái, lo sợ và mong cầu chi phối.
Câu chuyện cũng giải thích lời cảm hứng của Trưởng lão Bhaddiya. Khi còn làm vua, ông có người bảo vệ nhưng tâm không được bảo vệ khỏi sợ hãi. Khi chứng quả A-la-hán, dù một mình sống giữa rừng, ông lại có sự an ổn tuyệt đối vì tâm đã giải thoát.
Thông điệp cốt lõi
Hạnh phúc chân thật không nằm ở việc được nhiều người bảo vệ, mà ở chỗ không còn điều gì phải lo giữ hay sợ mất.
Người buông bỏ dục vọng, quyền lực và sự chấp thủ sẽ không cần kiểm soát người khác, cũng không phải sống trong phòng bị. Khi tâm không còn mong cầu, con người đạt được sự an lạc và tự do mà địa vị hay vật chất không thể đem lại.
Các nhân vật ở đây
Đọc tiếp & nội dung liên quan
Top bài viết liên quan
Dựa trên các chuyên mục chung với bài đang đọc, ưu tiên nội dung được quan tâm.
Bài viết cùng chuyên mục
Tiền thân Đức Phật ( Tiểu Bộ Nikaya)
Báo lỗi nội dung
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn