Cuộc đời Đức Phật Thích Ca TC116A02 : G - Hạ thứ 22 Các ni sư Mahà Pajàpati, Khemà và Dhammadinnà
Cuộc đời Đức Phật Thích Ca TC116A02 : G - Hạ thứ 22 Các ni sư Mahà Pajàpati, Khemà và Dhammadinnà
Các ni sư Mahà Pajàpati, Khemà và Dhammadinnà

Mùa an cư thứ 22 vào năm 568 trước tây lịch, Phật nhập hạ tại Sàvatthi, ngài thường thuyết pháp tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) và tinh xá Pubbàràma (Đông Viên). Ni sư Mahà Pajàpatilãnh đạo đông đảo ni chúng an cư tại ni viện gần đó. Phụ tá ni sư Mahà Pajàpati có ni sư Khemà. Ni sư Khemà[10]vốn là một quý phi của vua Bimbisàra xứ Magadha. Bà là người rất thông minh nhưng có tánh kiêu hãnh về sắc đẹp của mình. Vào hạ thứ hai, vua Bimbisàra đã đưa bà đến nghe Phật thuyết pháp tại Venuvana. Nhờ Phật độ bà tỉnh ngộ và xin quy y Tam Bảo. Sau bốn năm tu học với tính cách cư sĩ tại gia, bà đã xin xuất gia và gia nhập ni chúng do ni sư Pajàpati lãnh đạo. Bà tu học rất tinh tấn, chỉ vài năm sau bà đã trở nên một vị lãnh đạo quan trọng của ni chúng. Nữ cư sĩ Visàkhà thường cùng các con đến cúng dường và nghe pháp tại ni viện. Do đó bà biết rõ cuộc đời các nữ khất sĩ Khemà, Dhammadinnà, Bhadda, Uppalavannà và Patàcàrà.
Ni sư Dhammadinnà[11]là một trong những vị giảng sư nổi tiếng nhất của ni viện. Lúc chưa xuất gia, bà ở Ràjagaha. Ông Visàkhà, chồng bà, là một cư sĩ thuần thành thường đến Venuvana nghe Phật thuyết pháp. Ông ngộ đạo và đắc quả A-na-hàm. Một hôm, ông Visàkhà nghe pháp xong, về nhà bảo bà:
–Này Dhammadinnà, tất cả gia sản này tôi giao lại hết cho bà. Bà hãy giữ lấy để lo cho các con. Tôi đi xuất gia theo Phật.
–Ông muốn giao gánh nặng này cho tôi à !? Một mình tôi không kham nổi đâu. Thôi, ông ở nhà đi, để tôi đi xuất gia. Nghe nói Phật đã cho phép nữ giới xuất gia, tôi cũng muốn được xuất gia lắm.
–Được, bà muốn đi xuất gia cũng tốt.
Dhammadinnà xin xuất gia, ít lâu sau đắc quả A-la-hán. Sư cô trở về Ràjagaha để độ ông Visàkhà. Nghe tin sư cô về đến Ràjagaha, ông Visàkhà đến ni viện thăm và hỏi thử xem sư cô đã tu tiến đến đâu. Ông đến nơi, đảnh lễ sư cô, ngồi xuống một bên, rồi hỏi sư cô về cách tu chứng từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Sư cô đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông hỏi về ý nghĩa các từ liên hệ đến các cấp bậc tu chứng từ thấp lên cao đến Diệt thọ tưởng định. Sư cô đều đáp đúng những điều như ông đã biết. Đến khi ông hỏi về cảnh giới niết bàn của bậc A-la-hán. Sư cô đáp :
–Này đạo hữu, câu hỏi này đi quá xa, vượt ngoài khả năng trả lời của tôi. Nếu ông muốn biết thì ông nên đến hỏi đức Thế Tôn, ngài sẽ giảng nghĩa cho ông rõ ràng hơn.
Ông Visàkhà đến gặp Phật, kể lại câu chuyện giữa ông và sư cô Dhammadinnà. Phật bảo :
–Này đạo hữu Visàkhà, sư cô Dhammadinnà đã trả lời rất đúng những câu hỏi của ông. Nếu ông hỏi Như Lai thì Như Lai cũng sẽ trả lời như thế thôi.
Rồi đức Phật nói kệ :
"Ba đời đều trong sạch :
"Hiện tại, không có gì
"Quá khứ, không có gì
"Tương lai, không có gì
"Không có, cũng không muốn
"Chính là A-la-hán. (Kinh Pháp Cú, bài 421)
Bên cạnh ni sư Dhammadinnà còn có ni sư Bhadda Kapilani cũng rất nổi tiếng về thuyết pháp hay. Hai vị này thường được các giới cư sĩ thỉnh đến thuyết pháp tại nhiều địa điểm trong xứ Kosala.
Cuộc đời Đức Phật Thích Ca

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn