Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Tỳ kheo Punabbasuka (Trung bộ 70)
Nhân vật Phật học

Tỳ kheo Punabbasuka (Trung bộ 70)

2. Punabbasu. One of the Chabbaggiya. His followers were called Panabbasuka, and, together with the followers of Assaji, they were called Assaji Punabbasuka (q.v.). Punabbasu Sutta. Records an incident relating to Punabbasumata. (q.v.). S.i.210.

169 lượt xem #719 mã dữ liệu Nam giới tính 19.09.2025 ngày khởi tạo 19.09.2026 cập nhật
Khám phá theo quan hệ: Bài viết Nhân vật Địa danh Sitemap tri thức
THÔNG TIN KHÁI QUÁT

Dữ liệu nhân vật

Xem kinh liên quan ↓
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu
#719
Khởi tạo
19/09/2025
Cập nhật gần nhất
19/09/2026 13:08
Lượt xem
169
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

2. Punabbasu. One of the Chabbaggiya. His followers were called Panabbasuka, and, together with the followers of Assaji, they were called Assaji Punabbasuka (q.v.). Punabbasu Sutta. Records an incident relating to Punabbasumata. (q.v.). S.i.210.

HỒ SƠ Tỳ kheo Punabbasuka (Trung bộ 70)

2. Punabbasu. One of the Chabbaggiya. His followers were called Panabbasuka, and, together with the followers of Assaji, they were called Assaji Punabbasuka (q.v.).

Punabbasu Sutta. Records an incident relating to Punabbasumata. (q.v.). S.i.210.

Xuất hiện ở  Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 70.Kinh Kītāgiri (Kītāgiri sutta)

II. TÓM TẮT Kinh Trung bộ 70

Kinh này Phật dạy nhân hai tỳ kheo ở Kìtàgiri không chịu giữ giới từ bỏ ăn ban đêm [1] Khi nghe Phật chế giới này, họ bảo: "Nhờ ăn chiều, ăn sáng và ăn phi thời mà chúng tôi cảm thấy có sức, ít bệnh. Sao chúng tôi lại bỏ hiện tại để chạy theo tương lai?"

Phật cho gọi hai tỳ kheo này [2] đến và dạy: "Ðối với một người khi cảm thọ lạc [3] mà các bất thiện pháp đoạn diệt, thiện pháp tăng trưởng thì Phật dạy nên chứng trú lạc thọ ấy. Ngược lại đối với một người, khi cảm thọ lạc, mà các thiện pháp đoạn diệt, bất thiện pháp tăng trưởng thì nên từ bỏ lạc thọ ấy [4] Ðối với khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ cũng vậy. Vì sự việc này Như Lai đã biết, đã chứng, đã liễu giải với trí tuệ, nên Ngài dạy trường hợp nào cần từ bỏ, trường hợp nào cần an trú một cảm thọ lạc, khổ hay bất khổ bất lạc. [5]

Không phải đối với tất cả các tỳ kheo, Phật đều dạy có việc cần phải làm nhờ không phóng dật. Vì đối với các vị đã chứng lậu tận, đã tu hành viên mãn, đã thành đạt lý tưởng thì không có việc gì cần phải làm nhờ không phóng dật. Bởi vì những vị này không thể trở thành phóng dật. Nhưng với các tỳ kheo còn học, tâm chưa thành tựu, thì còn có việc phải làm nhờ không phóng dật.

Có bảy hạng người [6]:

1. Câu phần giải thoát,
2. Tuệ giải thoát,
3. Thân chứng,
4. Kiến đáo,
5. Tín giải th
oát,
6. Tùy pháp hành,
7. Tùy tín hành.

Câu phần giải thoát [7] là vị đã đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc và vô sắc pháp, và sau khi thấy với trí tuệ, đã tận trừ tất cả lậu hoặc.

Tuệ giải thoát [8] đã tận trừ lậu hoặc nhưng không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát.

Thân chứng [9] có chứng đắc các tịch tịnh giải thoát nhưng chỉ đoạn trừ một số lậu hoặc.

Kiến đáo [10] không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, chỉ đoạn trừ một số lậu hoặc.

Tín giải thoát [11] có chứng đắc tịch tịnh, đoạn trừ một số lậu hoặc, lòng tin đối với Như Lai đã được xác định.

Tùy pháp hành [12] có các căn tín, tấn, niệm, định, tuệ nhưng không chứng đắc tịch tịnh giải thoát, lậu hoặc không được đoạn trừ, các pháp do Như Lai tuyên thuyết chỉ được vị nầy chấp nhận một ít.

Tùy tín hành không chứng đắc tịch tịnh giải thoát, lậu hoặc không được đoạn trừ, nhưng có lòng tin và lòng thương Phật. Năm vị sau này còn có việc phải làm nhờ không phóng dật.

Trí tuệ không được hoàn thành tức khắc mà nhờ học từ từ, hành từ từ, tu tập tuần tự. Ấy là các giai đoạn:

- trước hết khởi lòng tin, rồi đến gần, kính lễ;
- lắng tai nghe pháp; thọ tr
ì pháp; suy tư ý nghĩa;
- chấp thuận pháp sau khi suy tư;
- khởi lên ước muốn; nỗ lực; cân nhắc; tinh cần;
- chứng được chân lý tối thượng; thể nhập chân lý với trí tuệ [13].

Nhưng nếu không có lòng tin [14], tất cả những gì sau đó cũng không.

Ðối với đệ tử có lòng tin bậc đạo sư, có bốn tùy pháp [15]:

1. Vị ấy nghĩ, bậc đạo sư là Thế tôn, đệ tử là tôi. Thế tôn biết, tôi không biết.
2. Ðối với vị ấy, giáo pháp hưng thịnh và có nhiều sinh lực.
3. Vị ấy khởi lên ý nghĩ: dù chỉ còn da xương, dù máu thịt khô héo, mong ta sẽ có tinh tấn lực để chứng đắc những gì chưa chứng [16].
4. Vị ấy sẽ chứng được một trong hai quả: chính trí trong hiện tại, và nếu còn dư y, chứng quả Bất hoàn.

.

Chưa có dữ liệu bản đồ cho nhân vật này.
KINH ĐIỂN Xuất hiện trong Nikaya

Xuất hiện ở nikaya khác ( tiểu bộ kinh )

TẠP A HÀM

Các bài kinh A Hàm có liên hệ với nhân vật





Đánh giá nội dungBài này hữu ích với bạn?/5 · 0 đánh giá
\n\n
ĐIỀU HƯỚNG TỪ DATABASE

Mạng liên kết nội dung

Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.

5liên kết

Kinh & bài có nhân vật

2 mục

Các bài/Kinh liên kết trực tiếp với nhân vật này.

Nhóm nhân vật

1 mục

Mở danh sách nhân vật cùng nhóm hiện hữu.

Nhân vật thường xuất hiện cùng

2 mục

Tính từ bài chung và địa danh chung ở backend.