Setavyā
Cấp 1
Setavyā
Đô thị thuộc Kosala; DN 23 trực tiếp ghi Kumārakassapa đến Setavyā và Pāyāsi cư trú tại đây.

- 10/04/2026 05:49:49- 4572 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1383 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1371 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1152 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1147 Lượt xem
⌖
Vương quốc Kosala
Vương quốc Kosala
30 địa danh trực tiếp và nhiều tầng trong cơ sở dữ liệu.
Setavyā
Cấp 1
Đô thị thuộc Kosala; DN 23 trực tiếp ghi Kumārakassapa đến Setavyā và Pāyāsi cư trú tại đây.
Thành Xá Vệ (SAVATTHI)
Cấp 1
1. Thành Xá Vệ (Sāvatthī) và tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana). Khoảng 10 giờ, sau khi ngắm sông Hằng và mua sắm vài thứ cần dùng cho chuyến đi, chúng tôi...
Xứ Saketa ( thuộc Kosala)
Cấp 1
Sākēta ) là tên gọi tiếng Phạn của thành phố Ayodhya của Ấn Độ . [ 1 ] Sākēta có thể được sử dụng thay thế cho nơi ở của Vaikuṇṭha trong các sử thi Hi...
Icchānaṅgala
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; AN 5.30 trực tiếp nói Đức Phật đến Icchānaṅgala khi du hành trong Kosala.
Manasākaṭa
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; DN 13 trực tiếp đặt Đức Phật tại Manasākaṭa.
Nagaravinda
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; MN 150 trực tiếp nói Đức Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo đến Nagaravinda.
Opāsāda
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; MN 95 trực tiếp đặt Đức Phật tại Opāsāda và mô tả đây là lãnh địa được vua Pasenadi ban cho Caṅkī.
Rừng Icchānaṅgala
Cấp 1
Khu rừng nơi Đức Phật trú khi đến làng Icchānaṅgala; AN 5.30 trực tiếp phân biệt làng và khu rừng.
Sông Aciravatī
Cấp 1
MN 21 places the Buddha at Sāvatthī and uses the Aciravatī River as a known local river; other early texts also attest it.
Sālā
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; MN 41 và SN 47.4 trực tiếp đặt Đức Phật tại Sālā.
Toranavatthu
Cấp 1
Địa điểm nằm giữa Sāvatthī và Sāketa; SN 44.1 trực tiếp đặt Tỳ-kheo-ni Khemā và vua Pasenadi tại đây.
Ukkaṭṭhā
Cấp 1
Thị trấn/lãnh địa Bà-la-môn thuộc Kosala, được vua Pasenadi ban cho Pokkharasāti; DN 3 chứng thực trực tiếp.
Venāgapura
Cấp 1
Làng Bà-la-môn thuộc Kosala; AN 3.63 trực tiếp nói Đức Phật du hành trong Kosala và đến Venāgapura.
Devavana / Rừng Sāla phía bắc Opāsāda
Cấp 2
MN 95 nói Đức Phật trú tại Devavana, rừng sāla ở phía bắc Opāsāda.
Eastern Porch / Pubbakoṭṭhaka
Cấp 2
Khu cổng/hiên phía Đông nơi Đức Phật và Ānanda đến tắm trước khi đi tới trú xứ Rammaka.
Nền tháp tôn giả Vô Não và nền nhà Cấp Cô Độc
Cấp 2
Cách tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana) không xa có hai nền tháp cũ gần nhau khoảng 100m, đó là nền nhà của ông Cấp Cô Độc (Anāthapindika) và nền tháp của tôn...
Rammaka Brahmin Hermitage
Cấp 2
Trú xứ của Bà-la-môn Rammaka gần Sāvatthī; nơi Đức Phật thuyết phần chính của MN 26.
Rừng Andhavana
Cấp 2
SN 5 repeatedly places bhikkhunīs in the Andhavana/Blind Men's Grove at Sāvatthī.
Rừng Subhaga
Cấp 2
Khu rừng gắn với Ukkaṭṭhā; MN 99 và các kinh liên quan đặt Pokkharasāti/Ukkaṭṭhā trong bối cảnh Subhaga Grove.
Rừng xoài bờ Aciravatī tại Manasākaṭa
Cấp 2
DN 13 nói Đức Phật trú trong rừng xoài bên bờ sông Aciravatī, phía bắc Manasākaṭa.
Siṃsapāvana tại Setavyā
Cấp 2
Rừng Siṃsapā ở phía bắc Setavyā; DN 23 trực tiếp ghi Kumārakassapa trú tại đây.
Jetavana (Kỳ Viên Tinh Xá)
Cấp 2
Jetavana (Kỳ Viên Tinh Xá) nằm ở ngoại ô thành Savatthi (Xá-vệ), Vùng đất của Tinh xá này vốn là Lâm viên của thái tử Kỳ-đà (Jetakumara). Trưởng giả C...
Tịnh xá Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên (Jetavana Anathapindika's Grove)
Cấp 2
Tịnh xá Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên (Jetavana Anathapindika's Grove): - Cũng nằm tại thành Xá Vệ, được xây dựng bởi trưởng giả Cấp Cô Độc. - Là một t...
Tịnh xá Rajakarama
Cấp 2
Tịnh xá Rajakarama: Cũng tại kinh thành Savathi của xứ Kosala nầy, ngoài Trưởng giả Cấp Cô Độc thì vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) cũng là một thí chủ lớn c...
Đông Phương Lộc Mẫu tịnh xá ( Pubbārāma)
Cấp 2
Có một việc trọng đại và cũng là một sự kiện đặc biệt trong bổn phận “hộ pháp” của đại thí chủ, thánh nữ Visākhā, đấy là việc kiến tạo ngôi tịnh xá Pu...
Gandhakuṭi (Hương Thất)
Cấp 3
Gandhakuṭi là một kiến trúc nổi tiếng trong truyền thống Jetavana; chứng cứ tên gọi cụ thể mạnh ở văn bản hậu kỳ/chú giải và nghệ thuật-khảo cổ, không...
Kareri-tree Pavilion
Cấp 3
Nhà hội/pavilion bên cây kareri trong quần thể Jetavana, được Ud 3.8 nêu trực tiếp.
Karerikuṭikā / Karerimaṇḍalamālā
Cấp 3
Địa điểm/công trình trong Jetavana tại Sāvatthī, được phần mở đầu Mahāpadāna Sutta (DN 14) chứng thực trực tiếp.
Kosambakuṭi
Cấp 3
Kosambakuṭi là một kiến trúc được truyền thống gắn với Jetavana; tên gọi cụ thể được chứng thực rõ ở lớp văn bản hậu kỳ/chú giải và biểu tượng nghệ th...
Migāramātupāsāda (Lộc Mẫu Giảng Đường)
Cấp 3
Giảng đường/lầu của Migāramātā (Visākhā) nằm trong Pubbārāma, Sāvatthī; được chứng thực trực tiếp trong nhiều kinh.
|
Vương quốc Kosala
कोसल राज्य
|
|||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| c. Thế kỷ thứ 7 TCN [1] –c. thế kỷ thứ 5 TCN | |||||||||
Kosala và các vương quốc lân cận.
|
|||||||||
Kosala và các Mahajanapadas khác trong thời kỳ Hậu Vệ đà.
|
|||||||||
| Thủ đô | Ayodhya và Shravasti của Uttar Kosala | ||||||||
| Ngôn ngữ chung | tiếng Phạn | ||||||||
| Tôn giáo
|
Tôn giáo Vệ Đà lịch sử Kỳ Na giáo Phật giáo |
||||||||
| Chính phủ | chế độ quân chủ | ||||||||
| Nhà vua | |||||||||
|
• ?
|
Ikshvaku (đầu tiên) | ||||||||
|
• khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên
|
Sumitra (cuối cùng) | ||||||||
| Thời đại lịch sử | Thời kỳ đồ sắt | ||||||||
|
• Thành lập
|
khoảng thế kỷ thứ 7 TCN [1] | ||||||||
|
• Bị hủy bỏ
|
khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên | ||||||||
|
|||||||||
| Hôm nay một phần của | Ấn Độ Nepal |
||||||||
Kosala , đôi khi được gọi là Uttara Kosala ( nghĩa đen là ' Kosala phương Bắc ' ) là một trong những Mahajanapadas của Ấn Độ cổ đại . [2] [3] Nó nổi lên như một quốc gia nhỏ trong thời kỳ Hậu Vệ Đà [4] [5] và trở thành (cùng với Magadha ) một trong những quốc gia sớm nhất chuyển đổi từ một xã hội dựa trên dòng dõi sang chế độ quân chủ . [6] Đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên , nó đã hợp nhất thành một trong bốn cường quốc của miền bắc Ấn Độ cổ đại, cùng với Magadha , Vatsa và Avanti . [2] [7]
Kosala thuộc về nền văn hóa Đồ đánh bóng đen phía Bắc (khoảng 700–300 BCE) [1] và có sự khác biệt về mặt văn hóa với nền văn hóa Đồ sơn màu xám của vùng Kuru - Panchala lân cận , sau sự phát triển độc lập theo hướng đô thị hóa và sử dụng sắt . [8] Sự hiện diện của dòng dõi Ikshvaku — được mô tả là một raja trong Ṛgveda và một anh hùng cổ xưa trong Atharvaveda [9] — mà Rama , Mahavira và Đức Phật đều được cho là thuộc về — đã đặc trưng cho vương quốc Kosalan. [10] [11]
Một trong hai sử thi vĩ đại của Ấn Độ , Ramayana lấy bối cảnh ở vương quốc "Kosala- Videha ", trong đó hoàng tử Kosalan Rama kết hôn với công chúa Videhan Sita .
Sau một loạt các cuộc chiến tranh với các vương quốc lân cận, cuối cùng nó đã bị đánh bại và bị sáp nhập vào vương quốc Magadha vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Sau sự sụp đổ của Đế chế Maurya và trước sự mở rộng của Đế chế Kushan , Kosala được cai trị bởi triều đại Deva , triều đại Datta và triều đại Mitra .
Kosala được giới hạn bởi Sông Gomti ở phía tây, Sông Sarpika ở phía nam, Sadanira ở phía đông, ngăn cách nó với Videha , và Đồi Nepal ở phía bắc. Nó bao gồm các lãnh thổ của Shakyans , Mallakas , Koliyas , Kālāmas và Moriyas ở đỉnh cao của nó. Nó tương ứng với vùng Awadh ngày nay ở Ấn Độ. [12]
Vùng Kosala có ba thành phố lớn là Ayodhya , Saketa và Shravasti , và một số thị trấn nhỏ như Setavya, Ukattha, [13] Dandakappa, Nalakapana và Pankadha. [14] Theo Puranas và sử thi Ramayana , Ayodhya là thủ đô của Kosala dưới thời trị vì của Ikshvaku và con cháu của ông . [15] Shravasti được ghi nhận là thủ đô của Kosala trong thời kỳ Mahajanapada (thế kỷ thứ 6–5 trước Công nguyên), [16] nhưng các vị vua hậu Maurya (thế kỷ thứ 2–1 trước Công nguyên) đã phát hành tiền xu của họ từ Ayodhya.
Kosala thuộc nền văn hóa Đồ gốm đen đánh bóng phía Bắc (khoảng 700–300 TCN), [1] tiếp theo là nền văn hóa Đồ gốm đen và đỏ (khoảng 1450–1200 TCN cho đến khoảng 700–500 TCN). Đồng bằng Trung lưu sông Hằng là khu vực trồng lúa sớm nhất ở Nam Á và bước vào Thời đại đồ sắt vào khoảng năm 700 TCN. [1] Theo Geoffrey Samuel, theo Tim Hopkins, Đồng bằng Trung lưu sông Hằng khác biệt về mặt văn hóa với nền văn hóa Đồ gốm sơn xám của người Aryan Vệ Đà ở Kuru-Pancala phía tây và chứng kiến sự phát triển độc lập hướng tới đô thị hóa và sử dụng sắt. [8]
Kosala nằm ở ngã tư của vùng đất trung tâm Vệ Đà của văn hóa Kuru - Panchala và Magadhan lớn . [17] Theo Alexander Wynne, văn hóa Kosala - Videha nằm ở trung tâm của các truyền thống Vệ Đà không chính thống, các truyền thống khổ hạnh và suy đoán, có thể bắt nguồn từ cuối Ṛgveda . [18] Văn hóa Kosala-Videha được cho là quê hương của trường phái Śukla của Yajurveda . [19]
Theo Michael Witzel và Joel Brenton, trường phái truyền thống Vệ Đà Kāṇva (và đến lượt Upanishad đầu tiên, tức là Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad ) có trụ sở tại Kosala trong thời kỳ Vệ Đà giữa và cuối. [20] Kosala có sự hiện diện đáng kể của truyền thống muni , [21] bao gồm các Phật tử , Kỳ Na , Ajivikas , Naga, Yakṣa , và những người tôn thờ cây cối cũng như các tín đồ Vệ Đà. [22] [23] Truyền thống muni nhấn mạnh vào việc "thực hành yoga , thiền định, xuất gia và lang thang khất thực" trái ngược với truyền thống ṛṣis "đọc kinh, tiến hành homa và sống theo lối sống gia chủ". [22]
Theo Samuel, có "bằng chứng mang tính biểu tượng rộng rãi về một tôn giáo sinh sản và tốt lành". [24] Theo Hopkins, khu vực này được đánh dấu bằng một
...thế giới của sức mạnh nữ giới, sự biến đổi tự nhiên, đất thiêng và những nơi linh thiêng, hiến tế máu và những người thực hiện nghi lễ chấp nhận sự ô nhiễm thay mặt cho cộng đồng của họ. [24]
Kosala có mối liên hệ đặc biệt mạnh mẽ với cuộc đời của Đức Phật . Đức Phật đã tự giới thiệu mình với vua Magadha trong Suttanipata là một người Kosalan. [25] Trong Majjhima Nikāya , vua Prasenajit cũng gọi Đức Phật là một người Kosalan. [26] Ngài đã dành phần lớn thời gian để giảng dạy ở Śrāvastī , đặc biệt là ở tu viện Jetavana . [27] Theo Samuels, Phật giáo sơ khai không phải là sự phản đối hệ thống Vệ Đà-Bà La Môn đã được thiết lập, phát triển ở cõi Kuru-Pancala, mà là sự phản đối ảnh hưởng ngày càng tăng của hệ thống Vệ Đà-Bà La Môn này và vị trí cao hơn được trao cho những người Bà La Môn trong đó. [28]
Mahavira , Tirthankara thứ 24 của Kỳ Na giáo giảng dạy ở Kosala. Một văn bản Phật giáo, Majjhima Nikaya đề cập đến Đức Phật như một Kosalan, điều này chỉ ra rằng Kosala có thể đã khuất phục gia tộc Shakya , mà theo truyền thống, Đức Phật được cho là thuộc về. [30]
Kosala không được đề cập trong các tài liệu Vệ Đà ban đầu , nhưng xuất hiện như một khu vực trong các văn bản Vệ Đà sau này của Shatapatha Brahmana (thế kỷ thứ 7-6 trước Công nguyên, [31] phiên bản cuối cùng là 300 trước Công nguyên [32] ) và Kalpasutras (thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên). [33]
Trong Ramayana , Mahabharata và Puranas, gia tộc cai trị vương quốc Kosala là triều đại Ikshvaku , hậu duệ của vua Ikshvaku . [34] Puranas đưa ra danh sách các vị vua của triều đại Ikshvaku từ Ikshvaku đến Prasenajit (Pali: Pasenadi ). [35] Theo Ramayana, Rama cai trị vương quốc Kosala từ thủ đô của mình là Ayodhya . [36]
Thủ đô đầu tiên của Koshala là Shravasti hầu như không được định cư vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, nhưng có khởi đầu của một pháo đài bùn. Đến năm 500 trước Công nguyên, người Vệ Đà đã lan rộng đến Koshala. [37]
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên dưới thời trị vì của Vua Mahakosala, Vương quốc Kashi lân cận đã bị chinh phục. [38] Con gái của Mahakosala là người vợ đầu tiên của Vua Bimbisara của Magadha. Như của hồi môn, Bimbisara nhận được một ngôi làng Kashi có doanh thu là 100.000. Cuộc hôn nhân này tạm thời làm dịu căng thẳng giữa Koshala và Magadha. [37]
Vào thời Pasenadi, con trai của Mahākosala, Kosala đã trở thành bá chủ của nước cộng hòa bộ lạc Kālāma , [39] và vương quốc của Pasenadi duy trì mối quan hệ thân thiện với bộ tộc Licchavi hùng mạnh sống ở phía đông vương quốc của ông. [40]
Trong thời trị vì của Pasenadi, một người Mallaka tên là Bandhula, người đã được giáo dục ở Takṣaśilā, đã cung cấp dịch vụ của mình như một vị tướng cho vua Kauśalya để duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người Mallaka và Kosala. Sau đó, Bandhula, cùng với vợ là Mallikā, đã vi phạm bể chứa thiêng liêng Abhiseka-Pokkharaṇī của người Licchavika , dẫn đến xung đột vũ trang giữa người Kauśalya và người Licchavika. Sau đó, Bandhula đã bị Pasenadi phản bội và giết hại cùng với các con trai của mình. Để trả thù, một số người Mallaka đã giúp con trai của Pasenadi là Viḍūḍabha chiếm đoạt ngai vàng của Kosala để trả thù cho cái chết của Bandhula, sau đó Pasenadi đã chạy trốn khỏi Kosala và chết trước cổng thủ đô Rājagaha của Māgadhī . [41]
Vào một thời điểm nào đó trong thời kỳ trị vì của mình, Viḍūḍabha đã sáp nhập hoàn toàn người Kālāma. Việc người Kālāma không yêu cầu chia sẻ xá lợi của Đức Phật sau khi ngài qua đời có thể là vì họ đã mất đi sự độc lập của mình vào thời điểm đó. [39]
Ngay sau khi Đức Phật nhập diệt, Viḍūḍabha đã xâm lược các nước cộng hòa Sakya và Koliya , tìm cách chinh phục lãnh thổ của họ vì họ từng là một phần của Kosala. Viḍūḍabha cuối cùng đã chiến thắng Sakyas và Koliyas và sáp nhập quốc gia của họ sau một cuộc chiến tranh dài với tổn thất lớn về sinh mạng ở cả hai bên. Chi tiết về cuộc chiến này đã bị phóng đại bởi các tài khoản Phật giáo sau này, trong đó tuyên bố rằng cuộc xâm lược của Viḍūḍabha là để trả thù vì đã gả một cô gái nô lệ cho cha mình, người đã trở thành mẹ của Viḍūḍabha, và rằng ông đã tiêu diệt người Sakyas. Trên thực tế, cuộc xâm lược Sakya của Viḍūḍabha thay vào đó có thể có động cơ tương tự như cuộc chinh phục Liên minh Vajjika của vua Māgadhī Ajātasattu vì ông là con trai của một công chúa Vajjika và do đó quan tâm đến lãnh thổ quê hương của mẹ mình. Kết quả của cuộc xâm lược Kauśalya là người Sakya và Koliya bị sáp nhập vào vương quốc Viḍūḍabha. [42] [43]
Những tổn thất to lớn về sinh mạng mà Kosala phải gánh chịu trong cuộc chinh phục Sakya đã làm suy yếu đất nước này đáng kể đến mức chính nó đã sớm bị người hàng xóm phía đông của mình, vương quốc Magadha , sáp nhập, và Viḍūḍabha đã bị vua Ajātasattu của Magadhī đánh bại và giết chết . [42]
Dưới thời trị vì của Mahapadma Nanda xứ Magadha, Koshala đã nổi loạn nhưng cuộc nổi loạn đã bị dập tắt. [37]
Người ta cho rằng trong thời trị vì của Maurya , Kosala nằm dưới quyền quản lý của phó vương ở Kaushambi về mặt hành chính . [44] Dòng chữ khắc trên tấm đồng Sohgaura, có lẽ được ban hành dưới thời trị vì của Chandragupta Maurya đề cập đến nạn đói ở Shravasti và các biện pháp cứu trợ được các quan chức áp dụng. [45] Phần Yuga Purana của Garga Samhita đề cập đến cuộc xâm lược Yavana ( Ấn Độ-Hy Lạp ) và sự chiếm đóng Saket sau đó dưới triều đại của người cai trị Maurya cuối cùng là Brihadratha hay Pushyamitra Shunga . [46]
| Lịch sử Nam Á |
|---|
|
Lịch sử quốc gia
|
|
Lịch sử khu vực
|
|
Lịch sử chuyên ngành
|
Tên của một số người cai trị Kosala thời kỳ hậu Maurya được biết đến từ những đồng xu vuông do họ phát hành, hầu hết được tìm thấy ở Ayodhya . [47] Những người cai trị hình thành nên triều đại Deva là: Muladeva, Vayudeva, Vishakhadeva, Dhanadeva , Naradatta, Jyesthadatta và Shivadatta. Không có cách nào để biết liệu vua Muladeva của đồng xu có thể được nhận dạng cùng với Muladeva, kẻ sát hại người cai trị Shunga Vasumitra hay không (mặc dù một nhà sử học, Jagannath đã cố gắng làm như vậy). [48] Vua Dhanadeva về đồng tiền được đồng nhất với vua Dhanadeva (thế kỷ 1 TCN) trên bia ký Ayodhya. Trong bản khắc bằng tiếng Phạn này, Vua Kaushikiputra Dhanadeva có đề cập đến việc dựng một ketana (cây cờ) để tưởng nhớ cha mình, Phalgudeva. Trong dòng chữ này, ông tự nhận mình là người thứ sáu có nguồn gốc từ Pushyamitra Shunga . Dhanadeva đã phát hành cả đồng xu đúc và đồng xu chết và cả hai loại đều có hình con bò đực ở mặt trước. [49] [50]
Những người cai trị địa phương khác có tiền xu được tìm thấy ở Kosala bao gồm: một nhóm người cai trị có tên kết thúc bằng "-mitra" cũng được biết đến từ tiền xu của họ: Satyamitra, Aryamitra, Vijayamitra và Devamitra, đôi khi được gọi là " Triều đại Mitra muộn của Kosala". [51] Những người cai trị khác được biết đến từ tiền xu của họ là: Kumudasena, Ajavarman và Sanghamitra. [52]
Kosala nổi lên về tầm quan trọng chính trị vào đầu thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên để trở thành một trong 16 tiểu bang thống trị ở miền bắc Ấn Độ. Nó sáp nhập vương quốc hùng mạnh Kashi. Khoảng năm 500 trước Công nguyên, dưới thời trị vì của Vua Prasenajit (Pasenadi), nó được coi là một trong bốn cường quốc của phương bắc—có lẽ là cường quốc thống trị.
Kosala (Pāli: Kosala; Sanskrit: Kośala; Hán-Việt thường gọi Kiều-tát-la) là một trong mười sáu Mahājanapada – mười sáu đại quốc của Ấn Độ cổ đại và là một trong những vùng đất quan trọng nhất đối với cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật Gotama.
Trong thời Đức Phật, Sāvatthī (Xá-vệ) là kinh đô và trung tâm chính trị quan trọng của Kosala. Vua Pasenadi (Ba-tư-nặc; Sanskrit: Prasenajit) là người cai trị Kosala và xuất hiện nhiều lần trong kinh điển Pāli.
Kosala đặc biệt quan trọng đối với lịch sử Phật giáo vì Đức Phật đã dành một phần rất lớn cuộc đời hoằng pháp tại Sāvatthī, đặc biệt tại Jetavana – Kỳ Viên và Pubbārāma – Đông Viên.
Do số lượng rất lớn các bài kinh được đặt trong bối cảnh Sāvatthī, Kosala có thể được xem là một trong những trung tâm địa lý quan trọng nhất của Phật giáo sơ kỳ, cùng với Magadha.
Kosala được truyền thống Pāli liệt kê trong mười sáu Mahājanapada.
Trong thời Đức Phật, Kosala là một chính thể quân chủ lớn ở miền bắc Ấn Độ.
Kinh điển thường sử dụng cách gọi Kāsi-Kosala, phản ánh mối quan hệ chính trị mật thiết giữa Kosala và Kāsi.
Dưới thời vua Pasenadi, Kosala là một trong những thế lực chính trị lớn của miền bắc Ấn Độ và có quan hệ trực tiếp với Magadha, Sakya, Kāsi và nhiều cộng đồng lân cận.
Sāvatthī (Sanskrit: Śrāvastī; Hán-Việt: Xá-vệ) là kinh đô của Kosala vào thời Đức Phật.
Đây cũng là một trong những thành phố xuất hiện thường xuyên nhất trong kinh điển Pāli.
Rất nhiều bài kinh mở đầu bằng công thức:
“Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika…”
Đức Phật đã sống và giảng dạy tại Sāvatthī trong nhiều mùa an cư.
Vì vậy nên thiết lập quan hệ dữ liệu:
Kosala → Sāvatthī → Jetavana / Pubbārāma / Rājakārāma.
Sāvatthī cổ đại thường được xác định với khu vực Saheth–Maheth thuộc Uttar Pradesh, Ấn Độ ngày nay.
Jetavana (Kỳ Viên) là địa điểm Phật giáo quan trọng nhất tại Sāvatthī và thuộc nhóm những địa điểm gắn bó nhất với Đức Phật.
Khu vườn vốn thuộc Thái tử Jeta (Kỳ-đà).
Đại cư sĩ Anāthapiṇḍika – Cấp Cô Độc, tên thật Sudatta, mua khu vườn và kiến lập một tu viện để cúng dường Đức Phật cùng Tăng đoàn.
Tên gọi truyền thống:
Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme
có nghĩa là:
“Tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika.”
Một số lượng rất lớn bài kinh trong bốn Nikāya có bối cảnh tại đây.
Vì thế trong database nên liên kết:
Kosala → Sāvatthī → Jetavana → Anāthapiṇḍika → Đức Phật → các bài kinh được thuyết tại Jetavana.
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) là một trong những nam cư sĩ hộ trì nổi tiếng nhất của Đức Phật.
Tên thật của ông là Sudatta.
Ông là một thương gia giàu có tại Sāvatthī và trở thành người bảo trợ quan trọng của Tăng đoàn.
Việc kiến lập Jetavana biến Sāvatthī thành một trong những trung tâm cư trú lâu dài quan trọng nhất của Đức Phật.
Do đó Anāthapiṇḍika không nên chỉ được liên kết với record nhân vật mà còn phải có quan hệ trực tiếp với:
Sāvatthī → Jetavana → Kosala.
Trung tâm Phật giáo lớn thứ hai tại Sāvatthī là Pubbārāma – Đông Viên.
Địa điểm này đặc biệt gắn với nữ đại thí chủ Visākhā (Tỳ-xá-khư).
Bà cho xây dựng Migāramātupāsāda – Lộc Mẫu giảng đường tại Pubbārāma để cúng dường Tăng đoàn.
Đức Phật nhiều lần cư trú tại đây.
Do đó database nên tạo chuỗi quan hệ:
Kosala → Sāvatthī → Pubbārāma → Migāramātupāsāda → Visākhā.
Jetavana và Pubbārāma là hai trung tâm cần được ưu tiên khi mô tả Sāvatthī.
Kosala là một trong những vùng Đức Phật hoạt động nhiều nhất.
Ngoài Sāvatthī, kinh điển còn ghi Đức Phật du hành qua nhiều địa điểm khác trong lãnh thổ Kosala.
Tuy nhiên, Sāvatthī giữ vị trí nổi bật nhất.
Theo truyền thống chú giải, Đức Phật trải qua 25 mùa an cư tại Sāvatthī, gồm:
19 mùa tại Jetavana
và
6 mùa tại Pubbārāma.
Con số này thuộc truyền thống chú giải và nên được ghi rõ như vậy, thay vì trình bày như một thống kê trực tiếp từ một bài kinh Nikāya.
Dù vậy, số lượng rất lớn bài kinh có bối cảnh Sāvatthī cho thấy chắc chắn thành phố này là một trong những trung tâm hoằng pháp quan trọng nhất của Đức Phật.
Pasenadi là vua Kosala cùng thời Đức Phật.
Ông xuất hiện nhiều lần trong các Nikāya và thường đến gặp Đức Phật để thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến đời sống, quyền lực, tuổi già, cái chết, đạo đức và giáo pháp.
Một nhóm kinh đặc biệt quan trọng là Kosala Saṃyutta – Tương Ưng Kosala, trong đó nhiều cuộc đối thoại giữa Đức Phật và vua Pasenadi được bảo tồn.
Mối quan hệ giữa Pasenadi và Đức Phật vì thế cung cấp nhiều thông tin về sự tiếp xúc giữa Tăng đoàn Phật giáo sơ kỳ với tầng lớp chính trị đương thời.
Mallikā là hoàng hậu của vua Pasenadi và là một nữ cư sĩ được nhắc đến trong kinh điển.
Một số bài kinh liên quan trực tiếp đến vua Pasenadi và Mallikā.
Khi Mallikā qua đời, kinh điển ghi vua Pasenadi đau buồn và Đức Phật giảng cho ông về những điều không ai trên đời có thể tránh khỏi.
Mallikā vì vậy là một nhân vật nên được liên kết trực tiếp với:
Kosala → Pasenadi → Mallikā.
Một chi tiết đáng chú ý trong Majjhima Nikāya là Pasenadi nhấn mạnh mối liên hệ giữa mình và Đức Phật với Kosala.
Điều này phù hợp với bối cảnh chính trị thời đó: lãnh thổ Sakya, nơi Đức Phật sinh trưởng, nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Kosala.
Tuy nhiên cần phân biệt:
Đức Phật thuộc dòng Sakya.
Sakya có quan hệ lệ thuộc/chính trị với Kosala.
Không nên từ đó xóa bỏ bản sắc Sakya và đơn giản ghi Đức Phật là “người Kosala” theo nghĩa dân tộc hiện đại.
Mối quan hệ giữa Kosala và Sakya rất quan trọng đối với lịch sử thời Đức Phật.
Kapilavatthu và lãnh thổ của người Sakya nằm trong vùng ảnh hưởng của Kosala.
Kinh điển cho thấy vua Pasenadi coi Đức Phật và bản thân mình đều có quan hệ với Kosala.
Nhưng Sakya vẫn duy trì cơ cấu dòng tộc và bản sắc chính trị riêng.
Vì vậy trên bản đồ nên thể hiện:
Kosala = đại quốc
và
Sakya = tiểu quốc/cộng đồng dòng tộc nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Kosala.
Không nên thể hiện Sakya như một đại quốc hoàn toàn ngang cấp với Kosala.
Viḍūḍabha (Vi-lưu-ly) là con vua Pasenadi và là nhân vật gắn với giai đoạn cuối của triều đại Kosala trong truyền thống Phật giáo.
Các nguồn truyền thống kể lại xung đột nghiêm trọng giữa Viḍūḍabha và dòng Sakya.
Tuy nhiên, nhiều chi tiết nổi tiếng về cuộc tấn công Sakya được bảo tồn trong chú giải và truyền thống hậu kỳ, không phải tất cả đều xuất hiện trực tiếp trong các Nikāya.
Vì vậy record Kosala nên phân biệt rõ:
Nikāya
với
Chú giải/truyền thống về Viḍūḍabha và Sakya.
Ngoài Sāvatthī, Sāketa là một đô thị quan trọng khác của Kosala.
Kinh điển xác nhận Sāketa thuộc Kosala và là một trong những đô thị lớn của Ấn Độ cổ đại.
Sāketa nằm trên tuyến đường kết nối Sāvatthī với các vùng phía nam.
Trong SN 44.1, vua Pasenadi đang đi từ Sāketa đến Sāvatthī và nghỉ tại Toraṇavatthu, nằm giữa hai thành phố.
Điều này cung cấp một quan hệ địa lý trực tiếp:
Sāvatthī ↔ Toraṇavatthu ↔ Sāketa.
Toraṇavatthu là một địa điểm nằm giữa Sāvatthī và Sāketa.
Tại đây, vua Pasenadi gặp Tỳ-kheo-ni Khemā, một trong những nữ đệ tử nổi tiếng của Đức Phật.
Nhà vua hỏi Khemā về vấn đề:
Như Lai có tồn tại sau khi chết hay không?
Cuộc đối thoại được bảo tồn trong SN 44.1 – Khemā Sutta.
Đây là một ví dụ rất tốt để database liên kết địa lý với kinh:
Kosala → Toraṇavatthu → Khemā → Pasenadi → SN 44.1.
Kāsi và Kosala có quan hệ chính trị lâu dài.
Trong kinh điển xuất hiện cách gọi Kāsi-Kosala, và vua Pasenadi được mô tả là vua của Kāsi-Kosala trong một số bối cảnh.
Benares/Bārāṇasī thuộc Kāsi từng là trung tâm của một vương quốc mạnh, nhưng cán cân quyền lực thay đổi qua các thời kỳ.
Vì vậy khi xây dựng bản đồ thời Đức Phật, cần tránh giả định rằng ranh giới Kāsi và Kosala luôn cố định.
Có thể thể hiện Kāsi như một vùng lịch sử quan trọng có quan hệ chính trị chặt chẽ và trong những giai đoạn chịu quyền lực của Kosala.
Kosala và Magadha là hai thế lực lớn cùng thời Đức Phật.
Hai vương quốc có quan hệ hoàng gia, ngoại giao và xung đột chính trị.
Các nguồn Phật giáo kể về những cuộc chiến giữa vua Pasenadi của Kosala và vua Ajātasattu của Magadha.
Kinh điển không chỉ ghi chiến thắng mà còn ghi thất bại, cho thấy quan hệ giữa hai nước biến động.
Đối với database nên tạo liên kết hai chiều:
Kosala ↔ Magadha
và liên kết nhân vật:
Pasenadi ↔ Ajātasattu.
Aciravatī là một con sông quan trọng liên quan đến Sāvatthī và Kosala.
Các nguồn Pāli đặt Sāvatthī bên khu vực sông Aciravatī.
Con sông xuất hiện trong nhiều văn cảnh của kinh điển và chú giải.
Vì vậy Aciravatī nên được tạo thành một địa danh tự nhiên riêng, liên kết với:
Kosala → Sāvatthī → Aciravatī.
Kosala nằm ở miền bắc Ấn Độ cổ đại.
Lãnh thổ cốt lõi thường được đối chiếu với vùng Awadh/Oudh của Uttar Pradesh ngày nay và các khu vực lân cận.
Sāvatthī nằm ở phía bắc của vùng này.
Tuy nhiên, phạm vi quyền lực Kosala thay đổi theo từng giai đoạn.
Không nên lấy đường biên của một bang hoặc huyện hiện đại làm đường biên chính xác của Kosala.
Trên bản đồ Nikaya Tâm Học nên ghi:
“Bắc Ấn Độ, chủ yếu vùng Uttar Pradesh ngày nay – phạm vi ước định.”
Cần đặc biệt tránh nhầm Kosala thời Đức Phật với Dakṣiṇa Kosala – Nam Kosala trong lịch sử Ấn Độ.
Kosala liên quan trực tiếp đến Sāvatthī, Pasenadi và cuộc đời Đức Phật nằm ở miền bắc.
Nam Kosala là một vùng lịch sử khác ở miền trung Ấn Độ.
Do đó không nên đưa lịch sử Nam Kosala, Nāgārjuna hoặc các triều đại hậu kỳ vào phần chính của record này nếu mục tiêu là mô tả Kosala thời Đức Phật.
Kosala có ít nhất năm ý nghĩa đặc biệt.
Thứ nhất – chính trị: Kosala là một trong mười sáu Mahājanapada và là một cường quốc quan trọng thời Đức Phật.
Thứ hai – hoằng pháp: Sāvatthī là một trong những nơi Đức Phật cư trú và thuyết pháp thường xuyên nhất.
Thứ ba – Tăng đoàn: Jetavana và Pubbārāma là hai trung tâm cư trú lớn của Đức Phật và chư Tăng.
Thứ tư – cư sĩ: Kosala gắn với những đại hộ pháp nổi tiếng như Anāthapiṇḍika và Visākhā.
Thứ năm – chính trị và Phật giáo: các cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Pasenadi cung cấp nguồn tư liệu đặc biệt về mối quan hệ giữa giáo pháp và xã hội đương thời.
Vì vậy Kosala cùng với Magadha tạo thành hai trong những không gian địa lý trung tâm nhất để nghiên cứu cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật.
Record hiện tại có nhiều thông tin hữu ích nhưng đang trộn:
lịch sử Vệ Đà + Ramayana/Purāṇa + Kosala thời Đức Phật + Nam Kosala + lịch sử hậu kỳ.
Đối với Địa danh Phật học, nên lấy Kosala thời Đức Phật làm lớp dữ liệu chính.
Không nên để những nội dung về Ramayana, Rama, các triều đại hậu Maurya hoặc Nam Kosala chiếm phần lớn bài.
Cũng nên tránh khẳng định rằng Đức Phật đơn giản là “người Kosala”. Cách chính xác hơn là:
Đức Phật thuộc dòng Sakya; lãnh thổ Sakya nằm trong phạm vi chính trị/ảnh hưởng của Kosala vào thời đó.
“Kosala (Kiều-tát-la) là một trong mười sáu Mahājanapada và là một trong những trung tâm quan trọng nhất của Phật giáo thời Đức Phật. Kinh đô Sāvatthī là nơi Đức Phật cư trú và thuyết pháp trong nhiều mùa an cư, đặc biệt tại Jetavana của Anāthapiṇḍika và Pubbārāma của Visākhā. Vua Pasenadi của Kosala là một nhân vật xuất hiện nhiều lần trong kinh điển và có nhiều cuộc đối thoại với Đức Phật.”
Tên: Kosala
Sanskrit: Kośala
Tên Hán-Việt: Kiều-tát-la
Loại: Mahājanapada – đại quốc thời Phật
Kinh đô thời Đức Phật: Sāvatthī
Đô thị quan trọng: Sāketa
Vua tiêu biểu: Pasenadi
Trung tâm Phật giáo: Jetavana, Pubbārāma
Đại hộ pháp: Anāthapiṇḍika, Visākhā
Vị trí hiện đại: Uttar Pradesh và vùng lân cận, Bắc Ấn Độ (ước định)
Quan hệ chính trị: Kāsi, Sakya, Magadha
Chứng cứ Nikāya: Rất cao
Độ chắc chắn đường biên hiện đại: Trung bình/thấp
RẤT CAO – Kosala là một trong mười sáu Mahājanapada.
RẤT CAO – Sāvatthī là kinh đô Kosala trong thời Đức Phật.
RẤT CAO – Pasenadi là vua Kosala cùng thời Đức Phật và xuất hiện nhiều lần trong Nikāya.
RẤT CAO – Đức Phật cư trú và giảng dạy rất nhiều tại Sāvatthī, đặc biệt ở Jetavana.
CAO – Sāketa là một đô thị quan trọng thuộc Kosala.
CAO – Sakya nằm trong phạm vi ảnh hưởng/chính trị của Kosala thời Đức Phật.
CHÚ GIẢI – con số Đức Phật an cư 25 mùa tại Sāvatthī, gồm 19 mùa tại Jetavana và 6 mùa tại Pubbārāma.
TRUNG BÌNH/THẤP – việc phục dựng đường biên chính xác của Kosala trên bản đồ hiện đại
Kosala , đôi khi được gọi là Uttara Kosala ( nghĩa đen là ' Kosala phương Bắc ' ) là một trong những Mahajanapadas của Ấn Độ cổ đại . [2] [3] Nó nổi lên như một quốc gia nhỏ trong thời kỳ Hậu Vệ Đà [4] [5] và trở thành (cùng với Magadha ) một trong những quốc gia sớm nhất chuyển đổi từ một xã hội dựa trên dòng dõi sang chế độ quân chủ . [6] Đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên , nó đã hợp nhất thành một trong bốn cường quốc của miền bắc Ấn Độ cổ đại, cùng với Magadha , Vatsa và Avanti . [2] [7]
Kosala thuộc về nền văn hóa Đồ đánh bóng đen phía Bắc (khoảng 700–300 BCE) [1] và có sự khác biệt về mặt văn hóa với nền văn hóa Đồ sơn màu xám của vùng Kuru - Panchala lân cận , sau sự phát triển độc lập theo hướng đô thị hóa và sử dụng sắt . [8] Sự hiện diện của dòng dõi Ikshvaku — được mô tả là một raja trong Ṛgveda và một anh hùng cổ xưa trong Atharvaveda [9] — mà Rama , Mahavira và Đức Phật đều được cho là thuộc về — đã đặc trưng cho vương quốc Kosalan. [10] [11]
Một trong hai sử thi vĩ đại của Ấn Độ , Ramayana lấy bối cảnh ở vương quốc "Kosala- Videha ", trong đó hoàng tử Kosalan Rama kết hôn với công chúa Videhan Sita .
Sau một loạt các cuộc chiến tranh với các vương quốc lân cận, cuối cùng nó đã bị đánh bại và bị sáp nhập vào vương quốc Magadha vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Sau sự sụp đổ của Đế chế Maurya và trước sự mở rộng của Đế chế Kushan , Kosala được cai trị bởi triều đại Deva , triều đại Datta và triều đại Mitra .
Kosala (skt)—Còn gọi là Câu Sa La, Câu Tát La, hay Cư Tát La. 1) Bắc Kiều Tát La: Uttarakosala (skt)—Một vương quốc cổ mà bây giờ là vùng Oude, nằm về miền Trung Ấn Độ (theo Truyện Pháp Hiển, Bắc Kiều Tát La là tên một vương quốc cổ ở miền Trung Ấn, khác với nước Nam Kiều Tát La. Đây là một trong 16 vương quốc lớn thời Đức Phật còn tại thế, thủ phủ là thành Xá Vệ, nơi Đức Phật đã lưu trú trong một thời kỳ dài)—Northern Kosala—An ancient kingdom in Central India, the modern Oude. Its capital is Sravasti, where the Buddha and his order stayed for a long period of time—See Xá Vệ Quốc. 2) Nam Kiều Tát La: Daksinakosala (skt)—Vương quốc cổ mà bây giờ thuộc về các tỉnh trung tâm Ấn Độ (theo Tây Vực Ký thì ngài Huyền Trang cho rằng vùng nầy là vùng Trung Ấn. Theo Truyện Pháp Hiển, đây là nước Đạt Thân hay Nam Kiều Tát La, để phân biệt với Bắc Kiều Tát La, còn gọi là Đại Kiều Tát La. Đây là nơi mà ngài Long Thọ đã từng lưu trú, được vua Sa Đa Bà Ha rất kính trọng. Nhà vua đã cho xây một ngôi chùa lớn năm tầng tại Bạt La Vị La. Vị trí thủ phủ của nước nầy ngày nay chưa ai định rõ)—Southern Kosala—An ancient kingdom, also in Central India, part of the present Central Provinces.
Vương quốc rộng lớn này do vua Pasenadi ( Ba Tư Nặc ) cai trị ..
Kosala có mối liên hệ đặc biệt mạnh mẽ với cuộc đời của Đức Phật . Đức Phật đã tự giới thiệu mình với vua Magadha trong Suttanipata là một người Kosalan. [25] Trong Majjhima Nikāya , vua Prasenajit cũng gọi Đức Phật là một người Kosalan. [26] Ngài đã dành phần lớn thời gian để giảng dạy ở Śrāvastī , đặc biệt là ở tu viện Jetavana . [27] Theo Samuels, Phật giáo sơ khai không phải là sự phản đối hệ thống Vệ Đà-Bà La Môn đã được thiết lập, phát triển ở cõi Kuru-Pancala, mà là sự phản đối ảnh hưởng ngày càng tăng của hệ thống Vệ Đà-Bà La Môn này và vị trí cao hơn được trao cho những người Bà La Môn trong đó.
Về vị trí hiện tại, Kosala không còn là một đơn vị hành chính độc lập. Các khu vực từng thuộc Kosala hiện nay nằm trong các bang Madhya Pradesh, Chhattisgarh và một phần của Odisha. Shravasti, kinh đô của Kosala, hiện nay là một địa điểm ở Uttar Pradesh, Ấn Độ.
Kosala là một trong 16 đại quốc (mahājanapada) được Aṅguttara Nikāya liệt kê. Trong kinh điển sớm, Kosala gắn đặc biệt với Sāvatthī và vua Pasenadi; đây là một trong những vùng Đức Phật hoạt động thường xuyên.
Nên giữ Kosala trong nhóm 16 mahājanapada. Khi mô tả lãnh thổ và biên giới hiện đại, cần tránh trình bày các đường ranh phục dựng như dữ kiện tuyệt đối vì địa giới cổ đại chỉ có thể ước định.
Nên liên kết chuẩn: Kosala → Sāvatthī → Jetavana/Kỳ Viên → Pubbārāma → Pasenadi → Anāthapiṇḍika → Visākhā.
Lớp sớm: Kosala xuất hiện trực tiếp trong Nikāya và trong danh sách 16 đại quốc. Lớp sau: các bản đồ ranh giới chi tiết và một số gia phả chính trị cần đối chiếu nghiên cứu lịch sử.
AN 3.70 và AN 8.43 liệt kê Kosala trong 16 đại quốc. Nhiều kinh thuộc Saṃyutta, Majjhima và Aṅguttara đặt bối cảnh tại Sāvatthī thuộc Kosala.
Các chi tiết truyền thuyết hoặc phục dựng biên giới về sau nên tách khỏi lớp kinh điển sớm.
Không nên dùng khảo cổ để chứng minh trực tiếp mọi sự kiện kinh điển; khảo cổ chủ yếu giúp xác định các lớp cư trú và địa điểm cổ.
Kosala cổ thường được đặt ở vùng trung lưu sông Gaṅgā phía bắc, liên hệ khu vực Uttar Pradesh ngày nay; ranh giới cụ thể biến đổi theo thời kỳ.
Chưa có bài viết liên kết trực tiếp với địa danh này.
Tôn Giả Tu Bồ Đề Subhuti – Giải Không Đệ Nhất678 lượt xem
Phu nhân Mallikā ( vợ tướng quân Bandhula – nước Kosala ) – người phụ nữ mất chồng mất con595 lượt xem
Hoàng hậu Mallikā (Cận sự nữ xuất sắc)642 lượt xem
Vua Ba Tư Nặc ( Pasenadi )709 lượt xem
Công Tử Kāla ( con trai ông Cấp Cô Độc)642 lượt xem
Cư Sĩ Tu Đạt ( Sudatta) – Cấp Cô Độc ( Anathapindika)735 lượt xem
Quốc Sư Aggidatta - nước Kosala557 lượt xem
Đại Thần Santati ( San Tá Tí) – Nước mắt đổ vì thương nữ nhân nhiều hơn nước 4 bể632 lượt xem
Vua Tỳ Lưu Ly (Vidūdabha)797 lượt xem
Bandhula - viên đại tướng văn võ toàn tài của vua Pasenadi488 lượt xem
Phu nhân Thắng Man668 lượt xem
Thái tử Jeta ( Kỳ Đà)631 lượt xem
Công chúa Sumana - Con gái vua Kosala ( có chỗ nói con gái - có chỗ nói chị vua Pasenadi)581 lượt xem
2 vị quan Juṇha và Kāla ( nước Kosala )- liên quan đến sự kiện vô song thí của vua Pasenadi570 lượt xem
Nàng Sumanādevī ( Tố Tâm nương tử – con gái út Cấp Cô Độc)- con gái mà xưng chị với cha598 lượt xem
Thiên Nữ - trú ở nhà ông Cấp Cô Độc494 lượt xem
Nàng Cūḷasubhaddā – cô con gái của ông Cấp Cô Độc600 lượt xem
Trai Nghèo Có Vợ Đẹp ( nước Kosala liên quan vua Pasenadi)458 lượt xem
Tỳ-khưu-ni Prakirti (Ma đăng già )583 lượt xem
thiện nam Bà la môn Pañcagga - cúng dường 5 loại vật thực đầu tiên512 lượt xem
Bà-la-môn Pokkharasāti544 lượt xem
Tỳ-khưu-ni Kisā-Gotamī (Đệ nhất mặc y thô tháo)564 lượt xem
Cincà Mànavikà – Người đàn bà mắc tội vu khống đức Phật từ nhiều tiền kiếp651 lượt xem
Tỳ-khưu-ni Uppalavaṇṇā (Cô gái hoa sen) – Nữ đệ tử thần thông nhất của Phật921 lượt xem
Tôn giả ANGULIMALA ( Vô Não ) - tướng cướp chuyển hóa lòng từ661 lượt xem
tu nữ ngoại đạo Sundarī ( Tôn Đà Lỵ))642 lượt xem
Phú hộ Mendaka – ông nội của nữ cư sĩ thánh đệ tử Visakha539 lượt xem
Tỳ-khưu-ni Paṭācārā- Vi Diệu (Đệ nhất thông Luật)1,004 lượt xem
Ni trưởng Soṇā Theri (Many-Children Soṇā)598 lượt xem
Ni trưởng Sakulā – nữ đệ tử thiên nhãn bậc nhất523 lượt xem
Tín chủ Surambattha ở Hamsavati ( gắn với tích Ma vương Mara hóa thành Phật để lừa đảo)567 lượt xem
Vợ chồng Bà La Môn Cūḷekasātaka đem dâng 1 cái y duy nhất của nhà cho Phật599 lượt xem
Đại Đức SOREYYA (Tu Lệ Da) – nam hóa nữ , nữ trở lại nam trong cùng 1 kiếp568 lượt xem
Vị Tỳ Khưu Ở Thuỷ Lưu Thôn ( Mātikagāma ) trong truyện Mẹ Mātikamātā476 lượt xem
Hai người bạn Garahadinna và Sirigutta462 lượt xem
Cận sự nam Uggata ( HamSavati) – đệ tử tại gia cúng dường với tâm không phân biệt đệ nhất550 lượt xem
Bà Visàkhà – Tỳ Xá Khư ( nữ đại thí chủ , hộ pháp thời Đức Phật )774 lượt xem
Trưởng lão Cakkhupāla (Ác nghiệp trổ quả làm mù mắt)516 lượt xem
Mẹ Mātikagama! (Người hộ độ tuyệt vời)613 lượt xem
Công Tử Anittāgandha – chuyện cô dâu mỹ lệ sắp cưới bị chết505 lượt xem
Chọn vấn đề bạn phát hiện. Quản trị viên sẽ nhận báo cáo kèm đúng trang hiện tại.
Liên kết bên dưới được dựng phía server từ các quan hệ đang có trong cơ sở dữ liệu Nikaya Tâm Học.
Quan hệ Địa danh ↔ Nhân vật đang có trong database.
Nhân vật liên hệ với địa danh qua dữ liệu meta hiện hữu.
- 10/04/2026 05:49:49- 886 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 886 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 886 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 762 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 762 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1104 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 977 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1255 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 1000 Lượt xem
- 10/04/2026 05:49:49- 920 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:16- 504 Lượt xem
- 07/24/2026 20:48:04- 515 Lượt xem
- 07/24/2026 20:47:51- 524 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:50- 436 Lượt xem
- 07/24/2026 20:43:37- 454 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:49- 491 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:36- 446 Lượt xem
- 07/24/2026 20:42:19- 485 Lượt xem