Nikaya Tâm HọcCon đường tuệ giác
Nikaya Tâm HọcKinh điển, nghiên cứu và các khu vực chính
Kinh sáchKinh điển, sách và tài liệu học Phật
Danh mục đầy đủ
Thời Phật Tại ThếBản đồ, Cuộc đời Đức Phật và Album ảnh
Bỏ qua menu, tới nội dung chính
Nikaya Tâm HọcKinh điển • Đức Phật • Nghiên cứu
Thư viện Nikaya Tâm HọcKhông gian tra cứu Đức Phật, Kinh Nikaya, A Hàm và tư liệu liên quan
Tìm kiếm nhanh
Phân loại theo :
Danh sách nhân vật Màu nền thể hiện loại nhân vật theo quy ước dữ liệu gốc.
Chú giải màu nhân vật
Phật Chánh Đẳng Giác Bích Chi Phật A-la-hán Bồ-tát Tỳ-kheo Cận sự nam/nữ Cừu nhân Chư thiên A-tu-la Ma vương Ngạ quỷ Súc sinh Khác
bện tóc Keniya Khác

Khi Thế Tôn cùng 1250 Tỷ kheo, du hành ở Anguttarapa,đi đến trị trấn Apana, tại đây người bện tóc Keniya (tín đồ của các Bà-la-môn)đến đảnh lễ Thế Tôn, cung thỉnh Thế Tôn và 1250 Tỷ kheo độ trai. Thế Tôn im lặng nhận lời.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Anga
Khác Anga
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Thanh niên Sanjikaputta Bình thường

A young brahmin, friend of Bodhirājakumāra. He was sent to invite the Buddha to Bodhi's palace, Kokanada (Vin.ii.127f.; M.ii.91). When Bodhi formed a plan to kill the architect of Kokanada, lest he should build another similar palace, Sañjikāputta warned the architect of Bodhi's intention. DhA.iii.134.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kasi
Bình thường Kasi
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Thần đồng Balamon Assalàyana Cận sự nam/nữ

Assalàyana ở Sàvatthì là một thiếu niên 16 tuổi nhưng là người thầnđồng, tinh thông ba tập Vệ-đà, thâm hiểu các triết lý ởđời (thuận thế luận) và “đại nhân tướng”… được các Bà-la-môn ở Xá-vệ cử đến để tranh luận với Thế Tôn về thuyết “Bốn giai cấp” ở Ấn.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Cận sự nam/nữ Kosala
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Bà-la-môn Ghotamukha (người cúng giảng đường Bà-la-môn Ghotamukhi) Cận sự nam/nữ

A brahmin, probably of Pātaliputta. On coming to visit Benares, he saw Udena there in Khemiyambavana and had a conversation with him, recorded in the Ghotamukha Sutta. At the conclusion of the talk he declared himself converted and wished to offer to Udena the daily allowance of five hundred kahāpanas which he regularly received from the king of Anga. Udena suggested that the money might be utilised to build an assembly-hall for the Order at Pātaliputta. The suggestion was agreed to and the assembly-hall, when built, was called Ghotamukhī (M.ii.157ff). The Commentary (MA.ii.786f) adds that Ghotamukha held the view that one should seek self-glorification, even by the slaughter of one's parents, and that he was the only person born in heaven, in spite of having held that view. After his birth in heaven, having discovered the cause of his good fortune, be came to earth in disguise and, after revealing his identity to his only remaining sister, told her where his treasures were hidden and instructed her to spend some of the money on renovating an old refectory which the monks were trying to restore.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kasi
Cận sự nam/nữ Kasi
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Udena ( Trung bộ 64) Bình thường

2. Udena.-A thera. He once stayed, after the Buddha's death, in the Khemiyambavana near Benares. There the brahmin Ghotamukha visited him. Their conversation is recorded in the Ghotamukha Sutta. At the end of Udena's sermon, the brahmin offered to share with him the daily allowance he received from the Anga king. This offer was refused, and at Udena's suggestion Ghotamukha built an assembly-hall for monks at Pātaliputta; this assembly-hall was named after him (M.ii.157ff).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Bình thường Không rõ
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Bà-la-môn Esukari Bình thường

1. Esukārī.-A brahmin who visits the Buddha at Jetavana and asks him various questions on castes and their distinctions, from the point of view of their functions. The Buddha replies that birth's invidious bar has been laid down by the brahmins, without consulting anybody else; all four castes alike can live the good life, which is the true service, and follow the Dhamma, which is the true wealth. At the end of the discourse Esukārī declares himself to be a follower of the Buddha (M.ii.177ff).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Bình thường Không rõ
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Thanh niên Bà-la-môn Kapathika ( Bharadvaja ) Bình thường

A young brahmin, sixteen years old, well versed in the Vedas, and with his head shaven. He was "of good stock, well informed, a good speaker and a scholar of ability." He visited the Buddha at Opasāda, where he interrupted a conversation which the Buddha was holding with some aged brahmins; they rebuked him for interrupting his elders, but Cankī, who happened to arrive at that moment, interceded on his behalf. The Buddha, knowing that Kāpathika had questions to ask of him, gave him an opportunity for so doing, and there followed a discussion on various points, detailed in the Cankī Sutta. At the end of the discussion the youth declared himself a disciple of the Buddha (M.ii.168ff).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Bình thường Không rõ
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Bà-la-môn Canki Cận sự nam/nữ

Tại làng Bà-la-môn Opasada thuộc dân Kosala, Bà-la-môn Cankì thiện sanhđã từ bảyđời, nổi tiếng xuất thân từ gia đình đại phú, đẹp trai, khả ái, cao thượng…, thông rõ ba tập vệ-đà, thành tựu giới hạnh, thầy của 300 thanh niên Bà-la-môn, là tôn sư của nhiều tôn sư …, đầy trọng vọng…, đã cùng chúng Bà-la-môn trân trọng lịch sử, lý lịch của Thế Tôn, đặc biệt là sự giác ngộ tối thượng, đã đến yết kiến Thế Tôn. Bấy giờ có Bà-la-môn Kapathika mới 16 tuổi rất thông tuệ, thông rõ toàn bộ Vệ đà, “thuận thế luận”, và “đại nhân tướng” có mặt trong hội chúng Bà-la-môn.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Cận sự nam/nữ Kosala
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Bà-la-môn Dhananjani Cận sự nam/nữ

1. Dhānañjāni (v.l. Dhānañjāni).-A brahmin of Tandulapāladvāra in Rājagaha. He was a minister of the king and oppressed the people in order to get rich. Sāriputta, hearing of his fall from the ways of earnestness - after the death of his first pious wife and his marriage to another - visited Dhānañjāni and pointed out to him that if he departed from equity and righteousness he could not hope to be excused on the plea that his fall was due to force of circumstances. Dhānañjāni profited by the discourse, and later, when he was ill, he sent word to Sāriputta, told him of his dire illness, and expressed his wish to be born in one of the Brahma-worlds. Sāriputta taught how union with Brahmā could be attained. Soon after, Dhānañjāni died, and the Buddha said that he was born in one of the lower Brahma-worlds. M.ii.184ff.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cận sự nam/nữ Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo Aggivessana) Cận sự nam/nữ

Dīghanakha A Paribbājaka, nephew (sister's son) of Sāriputta. He visited the Buddha at Sūkarakhatalena and the Buddha preached to him the Dīghanakha Sutta, at the end of which he became a sotāpanna. In the sutta he is addressed as Aggivessana (M.i.497f; ThagA.ii.95; DhA.i.79). He was originally an Annihilationist (MA.ii.477). Perhaps he is the heretic brahmin, nephew of Sāriputta, who was admonished by Moggallāna because he expressed great repugnance at the sight of Kassapa. Thag.1108ff; ThagA.ii.180.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cận sự nam/nữ Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Du sĩ Sandaka ( trú ở hang Pilakka ) Cận sự nam/nữ

Giảng cho Sandaka. Tôn giả A nan giảng dạy cho một nhóm du sĩ bốn đường lối phủ nhận đời sống phạm hạnh - phi phạm hạnh trú - và 4 loại đời sống phạm hạnh bất an "bất an phạm hạnh." Rồi Ngài giảng thế nào là đời sống phạm hạnh thực sự có hiệu quả.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Vamsa - Kosambi
Cận sự nam/nữ Vamsa - Kosambi
Cập nhật: 17/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Magandiya A-la-hán

Một Paribbājaka. Đức Phật từng ngự tại am lửa của Bà-la-môn Bhāradvājaggotta ở Kammāsadamma và Māgandiya đến am. Thấy tấm thảm cỏ mà Đức Phật ngủ ban đêm, ông hỏi đó là của ai, và khi được biết, ông rất bực mình, gọi Đức Phật là một người theo chủ nghĩa áp bức cứng nhắc (bhunahu). Bhāradvāja phản đối, Māgandiya bèn đề nghị nhắc lại lời buộc tội của mình trước mặt Đức Phật. Biết được cuộc trò chuyện này, Đức Phật đã vào am vào buổi tối và trò chuyện với Māgandiya, người cuối cùng đã gia nhập Tăng đoàn, sau này trở thành một vị A-la-hán. Mi502ff.; Mil.313.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kuru
A-la-hán Kuru
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Du sĩ Sakuludayi ở tại Moranivapa (Khổng Tước Lâm) Tỳ-kheo

Sakuludàyi là một đạo sư của một Hội chúng du sĩ, người thường bàn luận tranh cải với các Lục sư ngoại đạo, đã từng đặt nhiều câu hỏi mà các ngoại đạo sư lúng túng không có câu trả lời, như là trường hợp Nigantha Nàtaputta không thể trả lời được các câu hỏi về quá khứ của Sakuludàyi.Qua thời pháp, Sakuludàyi xin xuất gia làm đệ tử của Thế Tôn trước sự kinh ngạc và bất mãn của các du sĩ khác.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Tỳ-kheo Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Du sĩ Vekhanassa ( Kaccana ) Bồ-tát

Vekhanassa chủ trương ” Sắc nầy là tối thượng, sắc nầy là tối thượng ” và chỉ định nghĩa một cách trống rỗng, chung chung rằng; ” Sắc nào không có một sắc khác cao thượng hơn, hay thù thắng hơn, sắc nầy là tối thượng “, mà klhông xác định, qua thấy biết của tự thân, là sắc cụ thể nào.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Bồ-tát Kosala
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Vua Madhura Avantiputta Cận sự nam/nữ

Vua xứ Madhura đi đến tôn giả Ca Chiên Diên đang ở rừng Gundà [1] hỏi Ngài có ý kiến gì về chủ trương của các bà la môn: chỉ có bà la môn là dòng giống tối thượng, các dòng giống khác đều hạ liệt. Chỉ có bà la môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sinh ra từ miệng Ngài. Tôn giả Ca Chiên Diên nói đấy chỉ là âm thanh suông không có giá trị gì, và đưa ra các lý do:

Giới tính: Nam Nguyên quán: Avanti
Cận sự nam/nữ Avanti
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Trưởng lão Vacchagotta – thánh đệ tử nổi tiếng với nhiều bài kinh (Nikaya) A-la-hán

. Vacchagotta.Một Paribbājaka, người sau này trở thành A-la-hán Thera. Một số cuộc trò chuyện mà ông đã có với Đức Phật được đề cập trong sách. Để biết chi tiết, hãy xem Tevijja Vacchagotta-, Aggi Vacchagotta-, Mahā Vacchagotta-, Vaccha- và Vacchagotta-Suttas. Một số bài kinh này được trích dẫn trong Kathāvatthu (Ví dụ: trang 267, 505). Kinh Tương Ưng Bộ chứa toàn bộ phần về Vacchagotta; các cuộc thảo luận của ông chủ yếu quan tâm đến những câu hỏi hoang đường như thế giới có tồn tại vĩnh cửu, bản chất của sự sống, sự tồn tại hay nói cách khác của Tathāgata sau khi chết, v.v. S.iii.257ff .; xem thêm S.iv.391ff., về một số cuộc thảo luận của Vacchagotta với Moggallāna, Ananda và Sabhiya Kaccāna về các chủ đề tương tự. Ba Vacchagotta Suttas của Majjhima Nikāya dường như chứa đựng câu chuyện về sự cải đạo của Vacchagotta, theo thứ tự: ở phần kết của Tevijja Vacchagotta (số 72) chỉ đơn thuần nói rằng “Paribbājaka Vacchagotta hoan hỷ về những gì Đức Thế Tôn đã nói.” Cuối phần kế tiếp, Aggi Vacchagotta, ông được nhắc đến là đã nhận Đức Phật làm thầy của mình. Trong phần thứ ba, Mahā Vacchagotta, ông tìm cách xuất gia từ Đức Phật tại Rājagaha, và nhận nó sau thời gian tập sự bắt buộc là bốn tháng. 

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
A-la-hán Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Đại Phạm thiên Sahampati Chư thiên

When the Buddha was at the Ajapālanigrodha, hesitating as to whether or not he should preach the Dhamma, Sahampati appeared before him and begged of him to open to the world the doors of Immortality. The Buddha agreed to this urgent request (Vin.i.5f.;S.i.137f), and accepted from Sahampati the assurance that all the Buddhas of the past had also had no other teacher than the Dhamma discovered by them. S.i.139; see also S.v.167f.,185, 232, where he gives the same assurance to the Buddha regarding the four satipatthānas and the five indriyas; A.ii.10f.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Chư thiên Không rõ
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Bhaddàli ( Trung bộ 65) Tỳ-kheo

When the Buddha, at Jetavana, laid down the rule that monks should eat one meal a day and that in the morning, Bhaddāli protested and refused to keep this rule because he said that, in so eating, he would be a prey to scruples and misgivings. For three months he avoided the Buddha, until, just before the Buddha was starting on a journey, Bhaddāli, acting on the advice of his fellow monks, confessed his fault to the Buddha and begged for forgiveness (M.i.437ff). The Buddha praised this action and preached to him the Bhaddāli Sutta (q.v.).

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Tỳ-kheo Kosala
Cập nhật: 18/08/2026 Xem chi tiết →
Tôn giả Mālunkyā A-la-hán

Mālunkyāputta Thera (v.l. Mālunkyaputta, Mālukyaputta). Son of the assessor (agghāpanika) of the king of Kosala, his mother being Mālunkyā. He was religious by nature, and, when he came of age, became a Paribbājaka. Later, he heard the Buddha preach and joined the Order, becoming an Arahant (ThagA.i.446f). The Theragāthā contains two sets of verses attributed to him: one (vv. 399 404) spoken on his visit to his home after attaining arahantship when his people tried to lure him back by a great display of hospitality; the other* in connection with a brief sermon preached to him by the Buddha before he became an Arahant. The Thera asked the Buddha for a doctrine in brief and the Buddha gave him one. The verses contain a detailed account of the stanzas which were only outlined to him by the Buddha.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
A-la-hán Kosala
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Người thợ mộc Pancakanga (Ngũ Phần) Cận sự nam/nữ

 1. Do cư sĩ Pancakango và tôn giả Udàyi tranh cãi về lời  dạy Thế Tôn cho rằng có hai thọ (khổ, lạc), ba thọ (khổ, lạc, phi  khổ phi lạc), không đi đến kết luận, nên tôn giả A-nan đã trình bạch Thế Tôn dạy rõ.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Kosala
Cận sự nam/nữ Kosala
Cập nhật: 17/08/2026 Xem chi tiết →
Lõa thể Seniya (hạnh con chó) A-la-hán

Punna Koliyaputta (hạnh con bò) và lõa thể Seniya (hạnh con chó) đến yết kiến Thế Tôn ở thị trấn Haliddavasana, thuộc dân Koliya. Đây là câu chuyện về nghiệp, tiếp tục câu chuyện về nghiệp kinh 56, Koliyaputta xin đức Thế Tôn cho biết cảnh giới đầu thai của Seniya; Seniya thì xin Thế Tôn cho biết cảnh giới đầu thai của Koliyaputta.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Shakya - Koliya
A-la-hán Shakya - Koliya
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Punna Koliyaputta (hành trì hạnh con bò) Cận sự nam/nữ

Punna Koliyaputta (hạnh con bò) và lõa thể Seniya (hạnh con chó) đến yết kiến Thế Tôn ở thị trấn Haliddavasana, thuộc dân Koliya. Đây là câu chuyện về nghiệp, tiếp tục câu chuyện về nghiệp kinh 56, Koliyaputta xin đức Thế Tôn cho biết cảnh giới đầu thai của Seniya; Seniya thì xin Thế Tôn cho biết cảnh giới đầu thai của Koliyaputta.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Shakya - Koliya
Cận sự nam/nữ Shakya - Koliya
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Gia chủ Upali ( từng theo phái lõa thể) Cận sự nam/nữ

4. Upāli. - Còn được gọi là Upāli- Gahapati . Ông sống ở Nālandā và là đệ tử của Nigantha Nātaputta . Ông đã có mặt khi Dīgha-Tapassī thuật lại cho Nātaputta nghe về chuyến viếng thăm Đức Phật tại Vườn Xoài Pāvārika . Upāli đã đích thân đến gặp Đức Phật và bác bỏ quan điểm của Ngài, bất chấp sự phản đối của Dīgha-Tapassī. Vào cuối cuộc thảo luận của ông với Đức Phật, được ghi lại trong Kinh Upāli , Upāli đã cải đạo và mời Đức Phật dùng bữa. Mặc dù Đức Phật ra lệnh cho Upāli rằng các việc bố thí của ông dành cho Nigantha không được chấm dứt vì sự cải đạo của ông, Upāli đã chỉ thị rằng không được phép cho bất kỳ Nigantha nào đến gặp ông, nhưng nếu họ cần thức ăn thì sẽ được cung cấp cho họ. Nghe tin đồn về sự cải đạo của mình, trước tiên là Tapassī, và sau đó là chính Nātaputta, đã đến nhà Upāli, nơi họ biết được sự thật. Khi Nātaputta cuối cùng tin rằng Upāli đã trở thành tín đồ của Đức Phật, máu nóng trào ra từ miệng ông (Mi371ff). Theo Buddhaghosa (MA.ii.621, 830), Nātaputta phải được khiêng trên cáng đến Pāvā , nơi ông qua đời ngay sau đó. Upāli trở thành bậc Thánh Nhập Lưu (MA.ii.620). Ông được nhắc đến cùng với Ananda , Citta-gahapati , Dhammika-upāsaka và Khujjuttarā , là người đã đạt được bốn Patisambhidā khi còn là một học giả (sekha). Vsm.ii.442; VibhA.388.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Cận sự nam/nữ Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 20/08/2026 Xem chi tiết →
Nigantha Dighatapassi Bình thường

A Nigantha, follower of Nataputta. He once visited the Buddha at Nalanda, and there followed a discussion on actions and their efficiency. Dighatapassi reported this discussion to Nataputta and Upali, who was listening, went, against the advice of Dighatapassi, to the Buddha and challenged him to a discussion, at the end of which Upali was converted (M.i.371ff). The Commentary (MA.ii.594) says that Dighatapassi was long limbed, hence his name.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Ma Kiệt Đà
Bình thường Ma Kiệt Đà
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Gia chủ Potaliya ( Anguttarapa) Cận sự nam/nữ

A householder of Āpaṇa. Meeting the Buddha in a wood outside the town, he greeted him, and was addressed by the Buddha as “householder,” at which he was very angry, for he had, so he said, handed over his wealth to his sons, and possessed only his food and clothing. But the Buddha told him that true retirement from the household meant far more than that, and, at the request of Potaliya, he proceeded to explain his words. At the end of the discourse Potaliya declared himself the Buddha’s follower. MN.i.359ff.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Anga
Cận sự nam/nữ Anga
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
Phạm thiên Sanankumara Chư thiên

Phạm thiên Sanankumara được Đức Phật nhắc đến trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 53.Kinh Hữu Học (Sekha sutta)

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Chư thiên Không rõ
Cập nhật: 16/08/2026 Xem chi tiết →
Gia chủ Dasama (người ở thành Atthaka) Cận sự nam/nữ

Gia chủ Dasama đến gặp tôn giả Ànanda hỏi về pháp môn độc nhất mà nếu tinh tấn tu hành, sẽ khiến tâm chưa giải thoát được hoàn toàn giải thoát, lậu hoặc chưa trừ hoàn toàn được đoạn trừ, đạt vô thượng an ổn. Tôn giả giảng, đó là pháp môn ly dục, ly bất thiện pháp, chứng trú sơ thiền với 5 thiền chi, lần lượt chứng đến tứ thiền chỉ còn xả niệm thanh tịnh; an trú bốn phạm trú: biến mãn 10 phương với Từ tâm giải thoát, Bi tâm giải thoát, Hỉ tâm giải thoát, Xả tâm giải thoát; tu tập ba trong bốn Không định là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Không rõ
Cận sự nam/nữ Không rõ
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →
cư sĩ Pessa (con trai người huấn luyện voi) Cận sự nam/nữ

Du sĩ Kandaraka cùng cư sĩ Pessa con trai người huấn luyện voi, đến yết kiến Phật. Quan sát sự thanh tịnh của chúng tỳ kheo [1], du sĩ ca tụng Phật khéo hướng dẫn, và hỏi chư Phật trong quá khứ, tương lai có được những chúng tỳ kheo thanh tịnh như hiện nay không [2]. Phật xác nhận là có, trong chúng tỳ kheo này, có vị là a la hán lậu tận, việc tu hành đã thành mãn; có vị là bậc Hữu học khéo kiên trì giới luật, luôn an trú Bốn niệm xứ [3] để nhiếp phục tham ưu ở đời.

Giới tính: Nam Nguyên quán: Anga
Cận sự nam/nữ Anga
Cập nhật: 19/08/2026 Xem chi tiết →

Nikaya Tâm Học

Website nghiên cứu về Đức Phật Thích Ca và cuộc đời của ngài qua 2 tạng kinh chính Nikaya và A Hàm

© Nikaya Tâm Học 2024. All Rights Reserved. Designed by Nikaya Tâm Học