KTPH[466] Mười điều phản tỉnh của bậc xuất gia (Pabbajitābhiṇhapacavekkhana):
KTPH[466] Mười điều phản tỉnh của bậc xuất gia (Pabbajitābhiṇhapacavekkhana):
[466] Mười điều phản tỉnh của bậc xuất gia (Pabbajitābhiṇhapacavekkhana):
1. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ta có tướng mạo khác kẻ thế” (Vevaṇṇiy’ amhi ajjhūpagato’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều này, tiếng vevaṇṇiya vừa có nghĩa là hình dạng khác, như cạo bỏ râu tóc, mặc y ca sa…, vừa có nghĩa là “Vô giai cấp”, tức là vị sa môn không thuộc giai cấp nào trong xã hội.
Theo chú giải, vị tỳ-kheo phản tỉnh điều này để dứt trừ kiêu mạn.
2. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Sự nuôi mạng của ta tùy thuộc vào người khác” (Parap-paṭibaddhā me jīvikā’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để tự nhắc nhở mình không nên dể duôi, phải sống chánh mạng và sống xứng đáng với sự cấp dưỡng của người.
3. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Hành vi của ta phải làm khác kẻ thế” (Añño me ākappo karaṇīyo’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để tự nhắc mình phải thu thúc oai nghi, nghiêm tịnh sở hành.
4. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Phải chăng ta không tự trách giới hạnh của mình được chứ?” (Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm tự kiểm điểm lỗi lầm và sanh tâm hổ thẹn tội lỗi.
5. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Phải chăng các bạn đồng phạm hạnh trí thức khi xét đến ta, sẽ không chê trách ta về giới hạnh chứ?” (Kacci nu kho maṃ anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadatī’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitab-baṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để giúp cho vị tỳ-kheo cẩn trọng về giới hạnh, có tâm ghê sợ lỗi lầm.
6. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ta cũng phải biệt ly với tất cả những người thân kẻ mến” (Sabbehi me piyehi manāpehi nānabhāvo vinā-bhāvo’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để diệt giảm tâm dính mắc ái luyến với người vật vừa lòng, và cũng để dạy tâm quán niệm sự vô thường.
7. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ta có nghiệp là sở hữu, ta thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là chỗ nương, ta tạo nghiệp tốt hay xấu gì thì sẽ hưởng quả của nghiệp ấy” (Kammassako’ mhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammappaṭisaraṇo yaṃ kammaṃ karissāmi kalyānaṃ vā pāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmī’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavek-khitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để ngăn ngừa sự hành ác nghiệp do thân, khẩu, ý.
8. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ngày và đêm trôi qua, ta đã làm gì?” (Kathaṃ bhūtassa me rattindivā vītivattantī’ ti pabbajitena abhiṇ-haṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để nhắc nhở phải tinh tấn nỗ lực bổ túc pháptu còn thiếu sót.
9. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ta có ưa thích ở nơi thanh vắng chăng?” (Kacci nu kho’ haṃ suññāgāre abhiramāmī’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để khích lệ nhắc nhở mình sống hạnh viễn ly.
10. Bậc xuất gia phải luôn phản tỉnh rằng: “Ta có chứng được phápthượng nhân, tri kiến thù thắng của bậc thánh hay chưa? để lúc lâm chung các bạn đồng phạm hạnh hỏi đến, ta sẽ không hổ thẹn”. (Atthi nu kho me uttarimanussadhammo alamariyañāṇadassanaviseso adhigato so’ haṃ pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maṅku bhavissāmī’ ti pabbajitena abhiṇhaṃ paccavekkhitabbaṃ).
Điều phản tỉnh này nhằm để nhắc nhở mình phải chết có giá trị, không là người chết vô vị.A.V.87; Netti.185.

Mốc I : Hoàn cảnh trước khi Phật ra đời
Mốc II : Sự kiện Phật đản sanh
Mốc III: Giai đoạn tuổi thơ của Bồ tát Tất Đạt Đa
Mốc IV : Giai đoạn trưởng thành - xuất gia
Mốc V : Tầm đạo
Mốc VI : Thành đạo
Mốc VII: Những vị đệ tử đầu tiên
Mốc VIII : Tăng đoàn lớn mạnh
Mốc IX: Mười ba năm cuối cuộc đời Đức Phật
Mốc X : Đức Phật nhập niết bàn